Menu
Menu
Loading...
Loading...

Xây dựng Ký ức vĩnh viễn, Chơi trong đầu- Establishing Permanent Memory, Mental Play (P54)

Có tối thiểu năm phương pháp căn bản để học thuộc; chúng là : (1) trí nhớ bàn tay (nghe/tiếp chạm), (2) trí nhớ âm nhạc (nghe), (3) trí nhớ chụp ảnh (nhìn), (4) trí nhớ bàn phím. Chơi trong đầu (nhìn/tiếp chạm, não bộ), và (5) Trí nhớ lý thuyết [theoretical memory] (não bộ). Trong thực tế mọi người sử dụng một sự kết hợp chúng. Hầu hết mọi người chủ yếu dựa vào một phương pháp và sử dụng các phương pháp còn lại như một sự bổ sung. 
Chúng ta đã thảo luận về trí nhớ bàn tay (III.6.d). Nó đạt được bằng cách luyện tập lặp lại cho tới khi "bản nhạc đã ở trong tay". Ở trường phái giảng dạy bản năng, phương pháp này được cho là tốt nhất để học thuộc, chẳng qua là vì họ thiếu các phương pháp tốt hơn. Điều chúng ta bây giờ mong muốn là hãy thay trí nhớ bàn tay bằng trí nhớ thực để xây dựng được một trí nhớ/tác phẩm thuộc lòng bền vững hơn và đáng tin cậy hơn.  


Trí nhớ âm nhạc đặt nền tảng trên âm nhạc [của tác phẩm cụ thể -ND]: giai điệu, tiết tấu, cách diễn tấu, tình cảm, vv. Phương pháp này hoạt động hiệu quả nhất đối với loại người có thẩm mỹ nghệ thuật và âm nhạc, những người có những cảm xúc mạnh gắn kết với tác phẩm họ chơi. Những người có khả năng về cao độ tuyệt đối cũng sẽ sử dụng hiệu quả phương pháp này bởi vì họ có thể tìm ra các nốt trên cây piano từ trí nhớ âm nhạc của họ. Những người có thiên hướng sáng tác cũng sẽ sử dụng tốt loại trí nhớ này. Các nhạc sĩ không tự nhiên có được trí nhớ âm nhạc. Nó tuỳ thuộc loại não bộ của mỗi người, mặc dù nó có thể đào luyện, như được thảo luận ở mục III.6.m bên dưới. Lấy ví dụ, những người có trí nhớ âm nhạc tốt cũng có thể nhớ tốt các điều khác, chẳng hạn tên soạn nhạc gia và tên của tác phẩm. Họ có khả năng nhớ lại giai điệu tốt, vì vậy họ có thể ngâm nga bản nhạc nếu bạn nói họ tên bản ấy, cho hầu hết các tác phẩm mà họ tới khi đó mới chỉ nghe qua dăm lần.  


Chức năng quan trọng nhất của trí nhớ âm nhạc là nó phục vụ như một thuật toán ghi nhớ (memory algorithm). Chúng ta sẽ thấy ở mục “m” bên dưới rằng tất cả những người có trí nhớ siêu hạng đều sử dụng một kiểu loại thuật toán nào đó để mà ghi nhớ. Các chìa khoá cho sự ghi nhớ thành công là việc có được một thuật toán và biết cách sử dụng nó. Các nhạc sĩ may mắn bởi họ không hề phát minh ra một thuật toán nào – âm nhạc chính là một trong các thuật toán tốt nhất quanh ta rồi ! Đây là lý do chính tại sao các nghệ sĩ piano hoà nhạc có thể chơi suốt nhiều giờ mà không hụt một nốt. Cho tới khi chúng ta hiểu rõ khía cạnh này của âm nhạc, chúng ta vẫn quy các kỳ tích trí nhớ này cho “tài năng” hoặc “thiên tài”, nhưng thực tế, nó chỉ là một kỹ năng ghi nhớ mà có thể học được dễ dàng, như được miêu tả bên dưới. 

Trí nhớ chụp ảnh-Photographic memory: Bạn nhớ toàn bộ tổng phổ bản nhạc và trong thực tế bạn đã chụp hình nó và đọc lại ảnh đó trong đầu. Ngay cả với những người mà tự cho mình là không có thứ trí nhớ chụp ảnh, họ cũng có thể đạt được nó nếu họ luyện tập trí nhớ chụp ảnh này hằng ngày khi họ luyện tập một tác phẩm ngay từ khởi đầu. Nhiều người sẽ phát hiện rằng, nếu họ chuyên cần luyện quy trình này từ ngày thứ nhất (khi họ bắt đầu học tác phẩm), thì sẽ chỉ có bình quân độ vài ô nhịp trong một trang tổng phổ là không được ghi nhớ bằng trí nhớ chụp ảnh vào thời gian họ chơi tác phẩm ổn thoả. Một cách để ghi nhớ bằng loại trí nhớ này là tuân theo một cách chính xác các phương pháp được miêu tả bên dưới cho kỹ thuật và trí nhớ, nhưng hãy học thuộc bằng trí nhớ chụp ảnh tổng phổ bản nhạc đồng lúc, lần lượt tay này sau tay nọ, ô nhịp này theo ô nhịp nọ, và phân khúc này tiếp theo phân khúc nọ. 


Một cách khác cho phương pháp trí nhớ chụp ảnh là hãy bắt đầu ghi nhớ cấu trúc khung của tác phẩm trước, chẳng hạn có bao nhiêu giòng nhạc trong trang và bao nhiêu ô nhịp mỗi dòng; rồi thì các nốt trong ô nhịp, rồi các ký hiệu diễn cảm,vv. Tức là, bắt đầu bằng các đường nét tổng thể trước, rồi dần dần lấp đầy cái khung đó bằng các chi tiết. Hãy bắt đầu trí nhớ chụp ảnh bằng cách học thuộc mỗi lần chỉ một bàn tay. Bạn thật sự cần chụp một bức ảnh chính xác của bản nhạc, trọn vẹn với cả những khiếm khuyết và các dấu vết vốn ngoài tổng phổ. Nếu bạn gặp trở ngại khi học thuộc một số ô nhịp nào đó, hãy vẽ cái gì đó khác thường vào đó, chẳng hạn biểu tượng khuôn mặt cười hoặc các ký hiệu của riêng bạn mà giúp làm bật nảy trí nhớ của bạn. Thế, lần kế khi bạn muốn nhớ lại đoạn này, hãy trước nhất nghĩ tới biểu tượng khuôn mặt cười bạn vẽ đó. 


Một ưu điểm của trí nhớ chụp ảnh là rằng bạn có thể làm việc với tác phẩm mà không cần bên cây piano, ở bất kỳ đâu, bất kỳ nơi nào.Trong thực tế, một khi bạn đã đạt được, bạn phải đọc nó trong đầu bạn, xa cây piano, thường xuyên tối đa cho tới khi nó được ghi nhớ bền vững. Một ưu điểm nữa của trí nhớ chụp ảnh là rằng, nếu bạn bị mắc vướng giữa lúc đang chơi một tác phẩm, bạn có thể dễ dàng khởi đàn lại bằng cách đọc đoạn đó trong đầu. Trí nhớ chụp ảnh còn cho phép bạn đọc trước khi bạn chơi, điều giúp bạn suy nghĩ trước. Một ưu điểm nữa của trí nhớ chụp ảnh là nó giúp khả năng thị tấu của bạn nữa. 


Nhược điểm chính của nó là rằng hầu hết mọi người không thể duy trì trí nhớ chụp ảnh được trong những giai đoạn dài bởi sự duy trì nó đòi hỏi luyện tập nhiều hơn các phương pháp khác, bởi băng thông cao của các hình ảnh thị giác. Một nhược điểm nữa là rằng việc chụp ảnh trong đầu một bản nhạc in và đọc nó là một quy trình não bộ tương đối chậm mà có thể gây cản trở quá trình chơi. Tuy nhiên, nếu bạn tuân theo các phương pháp thảo luận dưới đây, bạn có thể thấy nó dễ dàng hơn bạn nghĩ. Về nguyên tắc chung, một khi bạn đã học thuộc lòng được một bản nhạc, bạn biết mọi nốt của nó và do đó có thể vẽ lại nó trên giấy nhạc, do vậy mà giúp cho trí nhớ chụp ảnh của bạn. Một khi bạn đã đạt được hầu hết các loại trí nhớ được thảo luận ở đây rồi, thì sự bổ sung thêm trí nhớ chụp ảnh đòi hỏi luyện tập thêm rất ít, trong khi bạn lại được thu hoạch các phần thưởng đáng kể. Do vậy mọi nghệ sĩ piano nên sử dụng một lượng tối thiểu của trí nhớ chụp ảnh. Giòng nhạc thứ nhất, có chứa bộ khoá và nhịp, là nơi tốt để khởi đầu.  


Với những người nghĩ rằng họ không có trí nhớ chụp ảnh, hãy gắng theo thủ thuật sau. Trước nhất, học thuộc một phân khúc nhỏ. Khi từng phân khúc đã được học thuộc, hãy hoạ nó lại trên cái tổng phổ mà từ nó bạn học bản nhạc; nghĩa là, với mỗi nốt bạn chơi (từ trí nhớ), hãy cố chụp ảnh cái nốt tương ứng trên trang giấy nhạc. Vì bạn biết từng nốt, HS, sự hoạ nó lại từ bàn phím lên giấy nhạc sẽ là đơn giản. Khi hoạ lại hãy xem tổng phổ để bảo đảm rằng mọi nốt đều ở vị trí chính xác ở đúng trang. Ngay cả các ký hiệu diễn cảm cũng nên được học thuộc. Làm tới làm lui như thế, chơi từ trí nhớ chụp ảnh và hoạ lại từ bàn phím vào giấy nhạc cho tới khi hình ảnh bản nhạc được chụp trọn vẹn. Khi đó bạn có thể khiến ngạc nhiên bạn bè mình bằng sự viết ra tổng phổ của toàn bộ bản nhạc, khởi từ bất kỳ chỗ nào ! Lưu ý rằng bạn sẽ có kỹ năng viết ra toàn bộ tác phẩm, theo chiều xuôi hoặc ngược, hoặc từ bất cứ chỗ nào ở giữa bài, hoặc thậm chí từng tay riêng biệt. Thế mà họ vẫn nghĩ chỉ duy nhất Wolfgang có thể thực hiện điều này ! 

Trí nhớ bàn phím -Keyboard memory và Chơi trong đầu : trong trí nhớ bàn phím, bạn nhớ trật tự các phím và các động tác bàn tay, cùng với âm nhạc, khi bạn chơi. Nó như thể bạn có một cây piano trong đầu mình vậy, và có thể chơi nó. Hãy bắt đầu luyện tập trí nhớ bàn phím bằng học thuộc HS, rồi HT. Kế, khi bạn ở xa cây piano, hãy chơi bản nhạc trong đầu bạn, lại bắt đầu bằng HS trước. Chơi nhạc trong đầu (mental play – MP), mà không có cây piano, là mục tiêu học thuộc tối hậu. Trí nhớ bàn phím là một cách tốt để khởi đầu MP. Việc chơi HT trong đầu lúc đầu tiên là không cần thiết, đặc biệt là nếu bạn thấy nó quá khó, mặc dù cuối cùng bạn sẽ chơi nó một cách thoải mái. Trong khi chơi MP, hãy ghi chú những phân khúc nào bạn đã quên, rồi trở lại bản nhạc/cây piano và ghi nhớ nó lại. Bạn có thể thử sử dụng trí nhớ chụp ảnh cho các phân khúc mà bạn có xu hướng hay quên bởi vì dù thế nào bạn cũng cần xem lại tổng phổ để tái-nhớ nó. MP là khó không chỉ vì bạn phải có nó đã được thuộc lòng, mà còn vì bạn còn phải cần có trí nhớ bàn tay và âm thanh piano để hỗ trợ nó; tuy nhiên, điều này chính xác lại là lý do tại sao nó có tác dụng rất mạnh. 


Trí nhớ bàn phím có hầu hết các ưu điểm của trí nhớ chụp ảnh nhưng có thêm ưu điểm là các nốt đã được học thuộc chính là các phím piano thay vì các con nòng nọc trên một trang giấy nhạc, vì vậy, bạn không phải dịch từ các con nòng nọc ấy sang thành các phím. Điều này cho phép bạn chơi với ít nỗ lực hơn so với chơi bằng trí nhớ chụp ảnh, bởi vì bạn không cần phải xuyên qua một quy trình phụ của sự dịch từ tổng phổ. Các ký hiệu diễn cảm không là các dấu hiệu trên giấy, mà là các ý tưởng âm nhạc (trí nhớ âm nhạc). Mỗi khi bạn luyện tập, trí nhớ bàn phím (cũng như trí nhớ bàn tay và trí nhớ âm nhạc) sẽ tự động duy trì nó, trong khi đó trí nhớ chụp ảnh thì không vậy. Bạn có thể luyện tập MP mà không có cây piano, do vậy bạn có gấp bội thời gian luyện tập, và bạn có thể chơi trước, y như với trí nhớ chụp ảnh.  


Khi sử dụng trí nhớ bàn phím, bạn có xu hướng phạm cùng các lỗi, và mắc kẹt cùng những chỗ, như khi bạn chơi bản nhạc trên cây piano. Điều này ý nghĩa bởi vì tất cả các lỗi đều khởi sinh từ não bộ. Chính điều này gợi ý rằng chúng ta có thể luyện tập và cải thiện một số khía cạnh nào đó của sự chơi trên piano bằng cách sử dụng chỉ MP -- đó quả là một ưu điểm đích thực vô song ! Hầu hết các gợi ý phương pháp học thuộc trong sách này đều áp dụng tốt nhất cho trí nhớ bàn phím, điều là một ưu điểm nữa của nó. MP là cách kiểm tra tốt nhất cho sự thuộc lòng đích thực – khi bạn chơi MP, bạn sẽ nhận thức rằng bạn vẫn lệ thuộc nhiều thế nào vào trí nhớ bàn tay ngay cả sau khi bạn tin rằng bạn đã đạt trí nhớ bàn phím. Chỉ sau khi bạn đạt ổn thoả MP bạn mới có thể được giải phóng khỏi trí nhớ bàn phím. Tuy nhiên, trí nhớ bàn tay luôn luôn là một hỗ trợ tốt – ngay cả khi bạn mất trí nhớ trong đầu, thường khi bạn vẫn có thể hồi phục nó mà không cần xem lại tổng phổ bằng cách chơi nó trên cây đàn piano sử dụng trí nhớ bàn tay.  


Với những người muốn học thị tấu và đạt được cao độ tuyệt đối (hoặc tương đối)-absolute (or perfect) pitch, MP sẽ tự động phát triển các kỹ năng đó. Trí nhớ bàn phím hiển thị cái bàn phím, nhờ đó mà giúp việc tìm đúng phím cho cao độ tuyệt đối, một kỹ năng bạn sẽ cần khi sáng tác, hoặc chơi ứng tấu trên piano. Do đó, những người năng luyện tập MP cũng đã luyện tập thị tấu và cao độ tuyệt đối, bởi họ phần nào đã học các kỹ năng đó rồi. Xem các mục 11 và 12 bên dưới để có thêm chi tiết. Trong thực tế, MP sẽ không thể có tác động tốt nếu không có cao độ tuyệt đối. Chắc chắn, MP là một trong những cách tốt nhất mà nhờ nó các thiên tài âm nhạc đã trở thành [thiên tài âm nhạc]. Do thế nhiều trong số các “kỳ tích thiên tài” trong thực tế là có thể đạt được bởi tất cả chúng ta nếu chúng ta biết cách luyện tập chúng. Kết luận: sự thuộc lòng/Trí nhớ dẫn tới sự chơi trên bàn phím/ chơi trong đầu, điều lại dẫn tới cao độ tương đối/cao độ tuyệt đối ! Nói cách khác, những điều này là các thành tố căn bản của kỹ thuật -- khi bạn đã thụ đắc tất cả chúng rồi, thì năng lực của bạn để thuộc và trình diễn sẽ có một bước nhảy đột phá. Thêm nữa, MP chính là chìa khoá để mở ra các cánh cửa dẫn vào cái thế giới của các nghệ sĩ piano hòa nhạc và các soạn nhạc gia.  


Như với bất kỳ quy trình học thuộc nào, MP phải được luyện tập ngay từ năm đầu theo học piano. Nếu bạn đã ngoài 20 tuổi, và chưa từng luyện tập MP, bạn có thể phải mất một năm chuyên cần luyện tập mới trở nên thoải mái với nó, và sử dụng nó thích đáng; việc học MP chỉ dễ hơn học cao độ tuyệt đối một chút. Do đó, ngay khi bạn thuộc được một phân khúc, hãy chơi nó trong đầu, và duy trì nó như bất kỳ loại trí nhớ nào khác. Bạn cần cuối cùng có kỹ năng chơi toàn bộ tác phẩm trong đầu. Bạn sẽ nhớ lại với niềm kinh ngạc và tự bảo "Chao ôi ! Cái đó dễ hơn mình đã nghĩ !" bởi vì cuốn sách này đã cung cấp cho bạn những yếu tố căn bản cần cho việc học MP. 


MP sẽ cho bạn cái khả năng bắt đầu chơi từ bất kỳ chỗ nào trong bản nhạc trong phạm vi một phân khúc nhỏ -- một cái gì mà khó học bằng bất kỳ phương cách nào khác. Bạn còn có thể đạt một ý tưởng rõ ràng hơn về cấu trúc của tác phẩm và chuỗi các giai điệu, bởi vì bạn bây giờ có thể phân tích tất cả các cấu trúc đó trong đầu. Bạn thậm chí còn có thể "luyện tập " ở những tốc độ mà các ngón tay của bạn không thể điều khiển. Các ngón tay bạn không bao giờ có thể đạt những tốc độ mà não bộ bạn không thể; bạn chắc chắn vẫn có thể gắng làm việc đó với một phần thành công, song nó sẽ là ngoài tầm kiểm soát của bạn. Theo đó MP ở các tốc độ cao sẽ giúp các ngón tay của bạn chơi nhanh hơn. Khi bạn đã thành thục MP rồi, thì sự chơi trong đầu bạn không lấy mất nhiều thời gian bởi vì bạn đã có thể chơi nó rất nhanh, hoặc theo lối rút gọn, nhảy qua các phân khúc/đoạn dễ và chỉ tập trung vào các chỗ mà bạn thường khi gặp các khó khăn. Có lẽ cái lợi ích to lớn nhất riêng biệt của MP là rằng trí nhớ của bạn sẽ được cải thiện rất lớn, tới mực bạn sẽ đạt được sự tự tin để trình diễn không một lỗi hay tì vết. Một sự tự tin như vậy là cách tốt nhất để loại trừ sự căng thẳng. Nếu bạn đã trải nghiệm bất kỳ sự khai sáng nào khi bạn học các phương pháp khác của sách này, hãy chờ cho tới khi bạn thành thục MP -- bạn sẽ kinh ngạc tự hỏi mình rằng làm thế nào mình có thể có được cái dũng cảm để trình diễn bất kỳ cái gì trước công chúng nếu như không thể chơi nó trong đầu -- Bạn vừa đã bước vào một tân thế giới, sau khi đã thụ đắc những năng lực mà sẽ được vô cùng ngưỡng mộ bởi bất kỳ thính giả nào. 


Còn một ưu điểm khác của MP nữa -- bạn thuộc càng nhiều tác phẩm trong đầu, thì sự học thuộc các tác phẩm mới khác càng trở nên dễ dàng cho ! Điều này xảy ra là vì bạn đang gia tăng số lượng các mối liên tưởng. Trí nhớ bàn tay thì ngược lại -- với nó, việc học thuộc một tác phẩm mới trở nên khó khăn hơn khi mà cái vốn tác phẩm đã thuộc của bạn gia tăng, là vì khả năng lẫn lộn của bạn cũng gia tăng. Ngoài ra kỹ năng MP của bạn sẽ gia tăng nhanh chóng khi bạn luyện tập nó và phát hiện ra rất nhiều khả năng của nó. Bởi vì MP thì hữu dụng ở nhiều phương diện, bạn sẽ tự nhiên luyện tập nó ngày càng nhiều, và càng trở nên thành thục nó. Tất cả các nghệ sĩ piano hòa nhạc đều thực hành MP xuất từ sự cần thiết, bất kể họ có được dạy nó chính thức hay không. Một lượng hiếm nhạc sinh được dạy MP; với các người chơi piano còn lại, này một khi đã đạt tới một trình độ kỹ thuật nhất định, họ sẽ nảy sinh khát vọng được học kỹ năng "mới lạ". May thay, nó không là một kỹ năng khó để thành thục với những nghệ sỹ nghiêm túc bởi vì các tưởng thưởng của nó là tức thời và rộng lớn tới mực ta chẳng gặp khó khăn nào về phương diện động cơ rèn luyện. 

Trí nhớ lý thuyết - Theoretical memory: Ở trình độ cao cấp, việc học MP là dễ dàng bởi vì ở trình độ này bạn đã học ít nhiều lý thuyết âm nhạc rồi. Trong một chương trình học xướng âm-solfege nên bao gồm kỹ năng này. Ấy nhưng, các giáo viên solfege thường chẳng luôn dạy các kỹ năng học thuộc hoặc MP. Các bài học lý thuyết sẽ cho bạn cách tốt nhất để học thuộc. Bằng cách liên kết tác phẩm với lý thuyết bên dưới nó, bạn có thể xây dựng những mối liên tưởng vững chắc với các ý tưởng căn bản. Không như tất cả các loại trí nhớ khác, trí nhớ lý thuyết có những mối liên tưởng sâu hơn bởi vì lý thuyết dẫn tới một sự hiểu biết tốt hơn cho bản nhạc và các mối liên tưởng đó là chi tiết hơn – các chi tiết nhỏ mà bạn hầu không nhận biết trước khi có thể nắm bắt được ý nghĩa chính của tác phẩm. Ở mức độ tối thiểu, bạn nên lưu ý các đặc tính chính của tác phẩm chẳng hạn bộ khoá, nhịp, tiết tấu, cấu trúc hoà âm, những sự chuyển hòa âm, cấu trúc hoà âm, giai điệu,vv, của một tác phẩm mới.  


Tóm lại, trí nhớ bàn phím nên là phương pháp đầu tiên của sự học thuộc/ghi nhớ. Bạn phải nghe bản nhạc đồng thời, vì trí nhớ âm nhạc là một phần của tiến trình này. Bổ sung trí nhớ chụp ảnh hễ khi nào nó có thể áp dụng dễ dàng, và bổ sung trí nhớ lý thuyết với mức độ tối đa mà bạn có thể. Bạn chưa đích thực học thuộc được một tác phẩm cho tới khi bạn đã có thể chơi nó trong đầu bạn -- đây là cách duy nhất mà trong đó bạn có thể trình diễn tác phẩm một cách diễn cảm và với sự tự tin. Bạn có thể sử dụng nó để giảm thiểu sự căng thẳng và nó là cách tốt nhất và mau chóng nhất để học cao độ tuyệt đối /cao độ tương đối. Trong thực tế, MP là một phương pháp rất hiệu quả mà ảnh hưởng thực tiễn tới mọi hoạt động âm nhạc mà bạn thực thi trên piano hoặc khi không bên cạnh nó. Điều này không gì đáng ngạc nhiên bởi vì mọi thứ bạn làm đều xuất phát từ não bộ, và MP là về cách mà bản nhạc được sáng tạo. Nó không những giúp củng cố trí nhớ bàn phím mà còn giúp năng lực âm nhạc của bạn, trí nhớ âm nhạc, trí nhớ chụp ảnh, các sự trình diễn, sự chính xác cao độ, chơi lạnh,vv. Đừng thụ động ngồi mà đợi bản nhạc xuất hiện từ cây đàn piano, mà hãy chủ động tiên liệu các bản nhạc mà bạn muốn nó được tạo thành – đó là phương cách duy nhất để thực thi một buổi trình diễn thuyết phục. MP là cái cách mà nhờ nó các thiên tài vĩ đại đạt thành tựu ở nhiều kỳ tích của họ, ấy vậy mà có quá nhiều giáo viên chưa từng dạy phương pháp này: chẳng lạ gì khi rất nhiều nhạc sinh xem các thành tựu của các nghệ sĩ piano vĩ đại là cái gì bất khả đạt. Chúng ta đã minh chứng ở đây rằng Chơi nhạc trong đầu-Mental Play không chỉ là có thể đạt được, mà phải là một phần bắt buộc trong chương trình học tập piano.

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Xây dựng Ký ức vĩnh viễn, Chơi trong đầu- Establishing Permanent Memory, Mental Play (P54)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Xây dựng Ký ức vĩnh viễn, Chơi trong đầu- Establishing Permanent Memory, Mental Play (P54)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt