Menu
Menu
Loading...
Loading...

Tập quán luyện tập “Lý tưởng”(Những chỉ dạy của Bach và bản Invention "2") (P67)

C. Các nguyên tắc luyện tập “chuẩn (normal)” và các Chỉ dẫn của Bach.  
Sau 3, 4 ngày luyện tập, bạn có thể quay trở lại với với nguyên tắc luyện tập “chuẩn” của bạn. Về nguyên tắc “học thuộc,” chúng ta căn bản là không thực hiện bất cứ cái gì ngoài việc học thuộc bởi vì sự pha trộn việc học thuộc với các luyện tập khác sẽ làm chậm tiến trình học thuộc. Ở nguyên tắc luyện tập “chuẩn,” chúng ta có thể tận dụng sự khởi đầu, khi hai bàn tay còn “nguội” và chơi một nguội một số tác phẩm đã luyện tập hoàn thành. Dĩ nhiên, bạn không thể chơi nguội những tác phẩm khó, nhanh. Hãy chơi hoặc là các tác phẩm dễ hơn, hoặc chơi tác phẩm khó với tốc độ chậm hơn. Một quy trình tốt là khởi đầu với các tác phẩm dễ hơn rồi dần dần chơi các tác phẩm khó hơn. Một khi bạn đã trở thành một người trình diễn đủ cứng hầu bạn không còn gặp trở ngại gì khi chơi nguội (sự này có thể mất độ một năm), thì bước này trở thành tuỳ chọn, đặc biệt là nếu bạn chơi piano hằng ngày. Nếu bạn không chơi piano hằng ngày, bạn có thể mất khả năng chơi nguội nếu bạn dừng luyện tập nó. Một điều khác mà có thể luyện tập trong quãng thời gian khởi động là chạy âm giai và arpeggio; xem các mục III.4.b và III.5 cho các chi tiết về cách luyện tập chúng. Bạn cũng có thể gắng luyện sự độc lập của ngón và sử dụng các bài của mục III.7.d; một số người chơi piano mà muốn phát triển sự độc lập của ngón có một tập quán là luyện tập các bài tập này một hoặc hai lần hằng ngày. Hãy bắt đầu luyện tập các tác phẩm khác thêm vào tác phẩm của Bach. 


Tới thời điểm này, bạn nên có khả năng chơi toàn bộ Bach Invention trong đầu, HS, mà không gặp trở ngại nào. Đây là một thời gian tốt để tiến hành ôn luyện các tác phẩm mà bạn đã thuộc trước đây, bởi vì việc học một tác phẩm mới thường gây hậu quả là khiến bạn quên một số phần của các tác phẩm mà bạn đã thuộc nó. Hãy luyện tập luân phiên giữa bản Bach Invention và các tác phẩm cũ của bạn. Bạn nên luyện tập bản Bach HS đa phần thời gian cho tới khi bạn đã thụ đắc tất cả các luyện tập cần thiết. Hãy nhanh chóng gia tăng tốc độ hết sức bạn có thể, cho tới các tốc độ vượt tốc độ yêu cầu, trong các phân khúc ngắn. Hãy chủ yếu luyện tập các phân khúc gây bạn khó khăn. Một khi bạn đã đạt được một tốc độ nhất định HS, hãy bắt đầu luyện tập HT ở một tốc độ chậm hơn. Ngay khi bạn đã cảm thấy thoải mái HT ở một tốc độ chậm, hãy đưa nó tới một một tốc độ nhanh hơn, vẫn thế, trong các phân khúc ngắn. Để tăng tốc (HS hoặc HT), đừng sử dụng máy đánh nhịp hoặc cưỡng các ngón tay chơi nhanh hơn. Hãy đợi cho tới khi bạn có được cái cảm giác rằng các ngón tay của bạn MUỐN đi nhanh hơn, rồi khi đó hãy tăng tốc độ với một lượng thoải mái. Điều này sẽ cho phép bạn luyện tập với sự thư giãn và tránh được các bức tường tốc độ. 


Để chuyển thành công từ luyện tập HS sang HT, hãy đào luyện/trau dồi cái cảm giác rằng hai bàn tay của bạn cần nhau để chơi. Điều này sẽ giúp bạn phát hiện các động tác cần cho sự chơi HT. Chơi HS là hữu ích ngay cả trong khi bạn đang chơi HT; ví dụ, nếu bạn vấp một lỗi ở một tay trong khi đang chơi HT, bạn vẫn có thể tiếp tục chơi với tay kia rồi đón trở lại bàn tay bị lỗi bất kỳ khi nào có thể. Nếu không luyện tập HS sâu, một kỳ công như thế sẽ là bất khả thi. Bạn có thể luyện tập một thủ thuật như vậy như một phần của tiến trình học thuộc – đừng chờ cho tới buổi trình diễn rồi mới gắng thực hiện nó ! 


Để thụ đắc được các kỹ thuật cụ thể mà Bach dự định dạy, chúng ta phải phân tích các Invention trong chi tiết Các Invention của Bach được ông sáng tác như các bài luyện tập cho kỹ thuật và mỗi bài nhằm dạy bạn các kỹ thuật riêng biệt. Do đó, chúng ta phải biết các kỹ năng nào mà bản Invention này muốn dạy. Bach dạy chúng ta không chỉ các kỹ năng chuyên biệt, mà còn cả CÁCH LUYỆN TẬP CHÚNG ! Tức là, bằng cách phân tích các bản Invention, chúng ta có thể học nhiều trong số các phương pháp của sách này ! Trước nhất, hãy chơi toàn bộ bản nhạc sử dụng TO. Lưu ý rằng Bach đã lồng vào một lượng tối đa những điểm cần chơi tréo ngón cái hầu cho chúng ta có thật nhiều cơ hội luyện tập chúng – rõ ràng là một cấu trúc có chủ ý. Trong cấu trúc phân ngón 212345 của RH ở ô nhịp 1, hãy luyện tập xoay trục quanh ngón 2 đầu tiên với bàn tay trong tư thế glissando để giúp thuận tiện TO. 
Nhạc đề chính của bản Invention này được cho bởi 4 ô nhịp đầu tiên của bè RH. Nó sau đó được lặp lại bởi bè LH. Bach ý bảo chúng ta luyện tập HS ! Cả hai bàn tay về cơ bản là chơi cùng những cấu trúc như nhau, mang cho chúng ta cơ hội để cân đối các mức độ kỹ thuật của cả hai tay, điều mà chỉ có thể đạt được bằng luyện tập HS và cho bàn tay yếu hơn luyện tập nhiều hơn. Không có cách nào để luyện tập sự độc lập của bàn tay, bài học chủ yếu của các bản Invention, tốt cho bằng luyện tập HS. Đoạn mà một tay đang chơi trill-láy rền hẳn là vô cùng khó để luyện tập HT từ đầu, trong khi nó lại khá dễ khi tập HS. Một số nhạc sinh mà không biết luyện tập HS sẽ cố “ghép cặp” hai bàn tay bằng cách tách riêng các nốt láy rền tập trước và rồi chơi nó chậm lại cho luyện tập HT. Điều này có thể là thích hợp cho những người mới học và trẻ nhỏ mà chưa từng học kỹ thuật trill. Hầu hết nhạc sinh nên trill (HS) từ đầu, rồi tiếp tục tăng tốc trill sớm hết mực có thể. Không hề cần thiết việc ghép cho khớp nhịp bằng cách chia tỷ lệ ở hai bàn tay; đây là nghệ thuật, chứ không là toán học hay cơ khí ! Bach muốn bạn trill một tay một cách độc lập khỏi tay kia. Điều này sẽ cho phép bạn chơi bản Invention này ở bất kỳ tốc độ nào mà không phải thay đổi tốc độ chi tiết trill một cách đáng kể. Cái lý do tại sao bạn không nên ghép cặp các nốt ấy (match the notes) là rằng các trill này là một thủ pháp để duy trì các nốt ấy một thời gian dài, và các nốt riêng rẻ này không có giá trị về tiết tấu. Bạn sẽ làm gì, nhỡ như, điều xảy ra là bạn ngẫu nhiên kết thúc bới nốt trill sai vào lúc kết? Bạn cần có khả năng bù lại sự đó bằng cách, hoặc là chờ một chút hoặc là thay đổi tốc độ của cú trill khi gần kết nó -- đấy là loại kỹ năng mà bản Invention này dạy bạn. Do đó, việc ghép cặp cú trill với tay kia để luyện tập sẽ làm thất bại những bài học của bản Invention này. Cú staccato ở các ô nhịp 3 và 4 của RH lại là một thủ thuật khác cho sự luyện tập độc lập bàn tay; staccato ở một tay đối lập với legato ỏ tay kia đòi hỏi nhiều khả năng chủ động hơn là legato ở cả hai tay. Cú staccato trong tất cả cả đoạn tương tự nên được sử dụng suốt toàn bản nhạc, mặc dù, ở nhiều ấn bản, chúng chỉ được ký hiệu [staccato] ở đầu bản nhạc.  


Hầu hết các tác phẩm để dạy học của Bach không chỉ dạy sự độc lập giữa hai bàn tay mà còn sự độc lập giữa các ngón tay trong cùng một bàn tay, đặc biệt là ngón 4. Do vậy trong các ô nhịp 11 và 13, có 6 nốt ở RH mà có thể được chơi như hai chùm liên ba nhưng trong thực tế lại là 3 chùm hai nốt (doublet) bởi bản nhạc có nhịp 3/8. Các ô nhịp này có thể là khó cho những người mới học bởi vì chúng đòi hỏi khả năng phối hợp của ba động tác khó : (1) cấu trúc đối xứng về phân ngón RH là của 2 chùm liên ba (tiết tấu 345-345), nhưng lại phải được chơi như là 3 chùm nốt đôi (34-53-45), (2) cùng lúc, LH phải chơi một cái gì hoàn toàn khác, và (3) tất cả những cái này phải được hoàn thành bằng sử dụng hầu hết ba ngón tay yếu nhất, 3, 4, và 5. Bach thường xuyên thủ pháp này để cưỡng buộc bạn chơi một tiết tấu mà khác với sự cân xứng về phân ngón nhằm đào luyện sự độc lập ngón. Ông còn cho ngón 4 phải hoạt động tối đa có thể, như trong lối phân ngón 45 cuối cùng.


Các chùm ba thì dễ chơi hơn nếu sử dụng phân ngón 234 thay vì 345, đặc biệt là cho những bàn tay lớn, nhưng hầu hết các ấn bản đã không đề nghị 234 bởi vì hầu hết các nhà biên tập của chúng đã không biết khái niệm parallel set (PSs). Hiểu biết về các bài tập PS cho thấy rằng dụng ý nguyên thuỷ của Bach là 345 (nhằm phát triển giá trị kỹ thuật tối đa), và nó là một “giấy phép âm nhạc” để chuyển nó sang 234 nhằm làm thuận tiện hơn việc diễn cảm. Nghĩa là, trong bất kỳ tác phẩm nào ngoài bản Invention này, thì phân ngón 234 sẽ là phân ngón đúng. Việc sử dụng 234 có thể được biện minh ở đây bởi vì nó dạy cho các nhạc sinh cái nguyên lý về sự chọn phân ngón với sự chủ động lớn nhất. Do đó, nhạc sinh có thể tuỳ chọn một trong hai lối phân ngón trên. Một tình huống tương tự khác khởi sinh ở các ô nhịp 38 nơi ý định nguyên thuỷ của Bach cho LH có lẽ là 154321 (một PS phức tạp hơn) trong khi đó sự giấy phép âm nhạc thường là 143212 lối mà ít đòi hỏi về kỹ thuật hơn. Nếu không có sự hỗ trợ từ các bài tập PS, thì sự chọn lựa hiển nhiên sẽ là cái giấy phép âm nhạc nọ. Bằng cách sử dụng các bài tập PS, nhạc sinh có thể học được cách sử dụng cả hai lối phân ngón thoải mái như nhau và tuân thủ được những ý đồ nguyên thuỷ của Bach.  


Các “chùm liên ba trong nhịp 3/8” là một ví dụ tốt cho sự rằng, cách đọc bản nhạc sai sẽ làm khó khăn cho việc đạt tốc độ và cách mà các bức tường tốc độ hình thành. Khi chơi HT, bạn sẽ gặp các vấn đề trở ngại nếu bạn chơi các chùm ba RH trong hai phách (cách chơi sai) và LH trong ba phách (cách đúng). Ngay cả khi bạn phạm một lỗi thứ hai ở sự chơi các chùm ba LH trong hai phách để hợp với RH, thì vẫn sẽ có một vấn đề trở ngại với sự thay đổi tiết tấu từ các ô nhịp kế cận chúng. Bạn có thể xoay sở để chơi băng qua các lỗi này ở tốc độ chậm, nhưng khi tốc độ tăng, việc chơi chúng sẽ trở thành bất khả thi và bạn bắt đầu dựng một bức tường tốc độ. Đây là một ví dụ cho thấy tầm quan trọng của tiết tấu và cách mà một tiết tấu sai có thể khiến cho việc chơi nó ở tốc độ cao trở thành bất khả thi. Điều kỳ lạ rằng thì bao nhiêu là bài học mà Bach có thể nhồi nén vào trong một cái gì thoạt trông đơn giản, và những sự phức tạp này lý giải phần nào lý do tại sao, nếu không có các phương pháp luyện tập thích đáng hoặc sự dẫn dắt của những vị thầy có kiến thức, nhiều nhạc sinh thấy là bất khả thi việc học thuộc nhạc Bach hoặc chơi các tác phẩm của ông vượt quá một tốc độ nhất định. Sự thiếu các phương pháp luyện tập thích đáng là nguyên do chính tại sao nhiều nhạc sinh chơi rất ít các tác phẩm của Bach. 


Các bản Invention là các bài học kỹ thuật tuyệt diệu. Hanon, Czerny, vv., đã cố gắng đạt tới cùng những mục tiêu ấy bằng sử dụng những cái mà họ tin là những phương pháp đơn giản hơn, hệ thống hơn song đã thất bại bởi vì họ thiếu cái hiểu biết cốt tuỷ và đã gắng đơn giản hoá một cái gì mà cực cùng phức tạp. Bach đã nén lượng tối đa mà ông khả dĩ các bài học vào trong mỗi/từng ô nhịp, như đã minh chứng bên trên. Hanon, Czerny, vv, hẳn đã nhận thức những khó khăn của sự học Bach nhưng lại không nhận thức được các phương pháp luyện tập tốt [của Bach-ND], và lại nỗ lực tìm kiếm các phương pháp luyện tập đơn giản hơn cho sự thụ đắc kỹ thuật bằng cách đi theo những trực giác thuần bản năng của họ (xem III.7.h). Đây là một trong các ví dụ tốt nhất về các cạm bẫy của phương pháp bản năng.  


Bởi vì các bản Invention được Bach soạn nhằm giảng dạy các kỹ năng riêng biệt, chúng có thể nghe ít nhiều gượng gạo. Bất chấp sự gượng gạo này, tất cả các bài học đó của Bach, trong thực tế, đều chứa nhiều âm nhạc hơn so với bất cứ cái từng được sáng tác và chứa đủ âm nhạc để có thể thỏa mãn nhu cầu của các nhạc sinh ở bất kỳ trình độ nào, bao gồm những người mới học. Nếu các bản Invention này là quá khó, hãy nghĩ tới việc nghiên cứu một lượng lớn hơn (và có thể được trình diễn một cách xuất sắc hơn) các bài học đơn giản hơn mà Bach sáng tác. Hầu hết chúng có thể được tìm thấy trong cuốn “Clavier Book of Anna Magdalena Bach” (người vợ thứ hai của Bach). Bởi vì có rất nhiều, hầu hết các sách chứa chỉ một số nhỏ các bài tuyển chọn. Bởi vì các bản Invention là các tác phẩm làm bài học, hầu hết mọi ấn bản đều ghi các sự phân ngón quan trọng nhất. Do đó, việc tìm hiểu các sự phân ngón đó, điều cực kỳ quan trọng, sẽ không là vấn đề trở ngại. Cuốn “J. S. Bach, Inventions and Sinfonias” của Willard A. Palmer, Alfred, CA, (www.alfredpub.com) có tất cả những sự phân ngón mà không dễ thấy, và còn có một tuyển tập về cách chơi các chi tiết hoa mỹ.  
Các bản Invention được tạo thành bằng sự liên hợp (assembling) các phân khúc được xác định tốt mà thông thường chỉ dài vài ô nhịp. Sự này làm chúng trở thành lý tưởng cho sự sử dụng luyện tập phân khúc HS, một yếu tố chủ chốt của các phương pháp của sách này. Đặc điểm này, cùng nhiều đặc điểm khác của các sáng tác của Bach làm chúng trở thành các bản nhạc lý tưởng cho việc học các phương pháp của sách này, và hoàn toàn khả dĩ rằng chúng đã được sáng tác với những phương pháp luyện tập này được dự kiến trong đầu Bach. Bach hẳn đã nhận thức được hầu hết c1c phương pháp luyện tập của sách này! 


Một bài học quan trọng khác trong các bản Invention của Bach là các nhóm PS. Bài học kỹ thuật chính của bản Invention 4 là nhóm PS 12345, nhóm căn bản được cần để chơi âm giai và các câu chạy. Tuy nhiên, Bach biết rằng một PS riêng lẻ [single] thì quá nguy hiểm từ góc nhìn kỹ thuật bởi vì bạn có thể dùng thủ thuật bằng cách khoá góc pha (phase locking) mà không thụ đắc được kỹ thuật. Nhằm ngăn ngừa thủ thuật khoá góc pha, ông đã thêm một hoặc hai nốt vào nhóm PS đó. Giờ, giả như bạn có cố sử dụng dùng thủ thuật nọ, thì bạn sẽ bị chặn tức thì bởi vì câu chạy sẽ không thành đều đặn/trôi chảy: Bach không cho bạn bất kỳ chọn lựa nào ngoài sự thụ đắc cái kỹ thuật được [ông] yêu cầu nếu bạn muốn chơi bản này một cách diễn cảm ! Đây là một ví dụ khác của sự Bach dạy chúng ta tại sao âm nhạc và kỹ thuật là bất khả phân ly (bằng cách sử dụng âm nhạc như một tiêu chí cho sự thụ đắc kỹ thuật). Do đó, cách nhanh nhất để học chơi bản Invention này là luyện tập các nhóm PS 12345 và 54321, và học TO. Ngay khi bạn kiểm tra các ngón tay của bạn sử dụng các nhóm PS này, bạn sẽ hiểu tại sao Bach sáng tác bản Invention này. Nếu bạn có thể thực hiện các bài tập PS này ổn thoả, thì bản này là khá dễ, nhưng bạn sẽ phát hiện rằng các nhóm PS này là hoàn toàn không dễ, và sẽ có thể đòi hỏi nhiều luyện tập ngay cả khi bạn đang ở trình độ trung cấp. Luyện tập đầu tiên trên các PS này sử dụng chỉ các phím trắng; kế, tập các nhóm khác mà bao gồm các phím đen, như được gợi ý bởi Bach. Một ví dụ tốt là nhóm PS LH 12345 của các ô nhịp 39-40, với ngón 4 khó chơi trên một phím trắng theo sau ngón 3 trên phím đen. Bach trích phần khó nhất của nhóm PS này, 2345, và lặp lại nó trong ô nhịp 49. 


Bach chắc chắn nhận thấy cái giá trị của việc chơi một nhóm nhỏ các nốt rất nhanh, chẳng hạn các nốt hoa mỹ và láy rền, cho sự phát triển kỹ thuật (tốc độ/velocity). Do thế, các nốt hoa mỹ của ông là một công cụ then chốt khác cho sự thụ đắc kỹ thuật, và chúng căn bản là một sự lắp ghép nhỏ các nhóm PS. Có vô số thảo luận về cách chơi các nốt hoa mỹ của Bach (xem Palmer, 3 đoạn trên cùng); các thảo luận này là quan trọng từ góc nhìn của sự diễn tấu bản nhạc chính xác, nhưng chúng ta không được phép bỏ mất quan điểm rằng về mặt kỹ thuật, các nốt hoa mỹ trong các tác phẩm bài học này là một công cụ nền tảng cho sự luyện tập tốc độ, chứ không chỉ là những nốt hoa mỹ về phương diện âm nhạc. Hãy chơi các nốt láy rền cả ở RH và LH với các ngón 1 và 3, mà giúp cho sự thực hiện láy rền LH dễ học hơn. Hầu hết nhạc sinh thường có khả năng chơi láy rền RH tốt hơn LH lúc đầu, trong tình huống đó, hãy sử dụng RH để dạy cho LH. Lối “chuyển giao kỹ thuật” này từ tay này sang tay kia là dễ hơn nếu cả hai bàn tay sử dụng sự phân ngón tương tự nhau. Bởi vì mục đích của kỹ thuật láy rền thì đơn giản chỉ nhằm kéo dài các nốt, nên chẳng hề có một yêu cầu cụ thể nào về tốc độ của láy rền; tuy nhiên, hãy gắng chơi láy rền cả hai bàn tay với cùng tốc độ. Nếu bạn muốn trill rất nhanh, hãy sử dụng các nhóm PS để luyện tập chúng như được miêu tả ở mục III.3.a. Điều quan trọng là việc khởi đầu hai nốt đầu tiên nhanh nếu bạn muốn trill nhanh. Hãy quan sát các tư thế của các ngón 2, 4, và 5 trong khi đang láy rền. Chúng nên ổn định (stationary), bám sát các phím, và khum nhẹ. 


Hầu hết nhạc sinh thấy khó chơi các bản Invention này vượt quá một tốc độ nhất định, vì vậy hãy xét qua một nguyên tắc luyện tập cho sự gia tăng tốc độ. Khi đã sử dụng phương pháp luyện tập này, bạn trong thực tế cuối cùng phải chơi được ở bất kỳ tốc độ khả dĩ nào, gồm các tốc độ chí ít nhanh như của Glenn Gould và các nghệ sĩ piano lừng danh khác. Chúng ta sẽ học chơi nhanh các ô nhịp 1 và 2, và sau đó, bạn sẽ có thể tự mình hình dung ra cách luyện tập để tăng tốc các phần còn lại. Lưu ý rằng hai ô nhịp này là tự-lặp/xoay vòng [self-cycling] (xem mục III.2). Hãy gắng xoay vòng nó nhanh. Nhiều khả năng là bạn sẽ thất bại bởi vì stress phát triển nhanh cùng tốc độ. Nếu thế, hãy luyện tập 212345 của ô nhịp 1 cho tới khi nó thật mượt và nhanh. Rồi, luyện tập 154, rồi 54321 của ô nhịp thứ 2. Sau đó, kết nối chúng lại, và cuối cùng, xoay vòng cả hai ô nhịp. Bạn có thể không hoàn chỉnh được mọi thứ vào ngày thứ nhất, nhưng sự cải thiện hậu luyện tập (PPI- post practice improvement) sẽ làm nó dễ dàng hơn ở ngày luyện tập thứ hai. Sử dụng các phương pháp tương tự, hãy giải quyết tất cả những khó khăn kỹ thuật của bạn trong toàn bản nhạc. Ko1 khăn chủ yếu trong LH là nhóm 521 của ô nhịp 4, do đó hãy luyện tập nhóm PS 521 cho tới khi bạn có thể chơi nó ở bất kỳ tốc độ nào, mà hoàn toàn thư giãn. Lưu ý rằng nhóm 212345 của RH và nhóm 543212 của LH là các bài tập chuyển ngón cái (thumb-passing). Rõ ràng, Bach đã nhận thức rằng kỹ thuật ngón cái chéo trên TO và ngón cái luồn dưới TU là các yếu tố kỹ thuật tối quan trọng ở một tốc độ cao nên ông đã sáng tạo vô số cơ hội tài tình cho bạn luyện tập chúng. Trước khi bạn có thể chơi HT nhanh, bạn phải đạt tới các tốc độ HS mà phải nhanh hơn rất nhiều cái tốc độ HT bạn mong muốn. “Đạt tốc độ ” không đơn thuần có nghĩa là có khả năng đạt tới cái tốc độ yêu cầu, mà bạn phải có khả năng cảm giác được bàn tay yên tĩnh (quiet hand), sự hoàn toàn chủ động cho sự độc lập của từng ngón tay. Những người mới học có thể cần nhiều tháng luyện tập HS cho các tốc độ cao hơn. Nhiều nhạc sinh thường có xu hướng ép cái tốc độ cao hơn từ các ngón tay của họ bằng cách chơi lớn; đây không là tốc độ thực, vì vậy hãy chơi mọi thứ khẽ cho những buổi luyện tập này. Khi khởi đầu chơi HT nhanh, hãy cường điệu tiết tấu -- cách này có thể khiến nó dễ hơn. Mặc dù hầu hết các tác phẩm của Bach có thể được chơi ở các tốc độ khác nhau, tốc độ tối thiểu cho các bản Invention là cái tốc độ mà ở đó bạn có thể cảm giác được bàn tay yên tĩnh khi bạn thụ đắc cái kỹ thuật cần thiết, bởi vì nếu bạn không đạt được tốc độ đó, bạn đã bỏ mất các bài học quan trọng nhất của Bach (bàn tay yên tĩnh). 


Một người chơi piano trình độ trung cấp sẽ có khả năng chinh phục được các khó khăn kỹ thuật của bản Invention trong vòng một tuần. Bấy giờ chúng ta sẵn sàng để luyện tập chơi nó như một tác phẩm âm nhạc ! Hãy lắng nghe nhiều bản thu âm khác nhau để có một ý tưởng về cái gì có thể được thực hiện, và cái gì bạn muốn có thể thực hiện. Hãy thử ở các tốc độ khác nhau rồi quyết định tốc độ cuối cùng theo riêng bạn. Quay video bạn chơi để xem bạn đã ổn thoả về cả hình ảnh và âm nhạc hay chưa; thông thường, sẽ là chưa, và bạn sẽ phát hiện nhiều yêu cầu cải thiện mình cần thực hiện. Bạn có thể không bao hoàn toàn thoả mãn ngay dù bạn đã luyện tập bản này suốt đời mình. Để chơi diễn cảm, bạn phải xúc chạm từng nốt [từng phím đàn] trước khi chơi nó, ngay dù sự xúc chạm đó chỉ xảy ra một phần nhỏ của giây. Sự xúc chạm này không chỉ mang cho bạn nhiều sự chủ động hơn và loại trừ các lỗi, mà còn cho phép bạn không ngừng tăng tốc thông qua sự nhấn phím (keydrop) hầu cho cái cán búa được uốn cong ở một lượng thích đáng khi búa gõ vào dây. Hãy tưởng tượng rằng không tồn tại đáy phím và cho phép đáy phím chặn dừng ngón tay của bạn. Bạn có thể thực hiện điều này và vẫn chơi khẽ. Đây được gọi là “chơi sâu vào trong cây piano.” Bạn không thể “nhấc ngón tay của bạn lên cao rồi bổ xuống” như Hanon khuyên dạy mà mong chờ sự tác thành âm nhạc. Một động tác như vậy có thể khiến cho cán búa đong đưa thay vì uốn cong và sản ra một âm thanh chói gắt và không thể đoán định. Do vậy, khi bạn luyện tập HS, hãy luyện tập một cách có nhạc cảm, sử dụng “các tư thế ngón dẹt” của mục III.4.b. Hãy kết hợp các tư thế ngón này với một cổ tay mềm dẻo. Hãy chơi với sự tối đa khả dĩ bằng phần đệm thịt của ngón tay (phần đối diện với móng tay), chứ không bằng phần đầu ngón nhiều xương. Nếu bạn quay video bạn chơi, thì tư thế ngón khum sẽ trông rất trẻ con và nghiệp dư. Bạn không thể chơi thư giãn trừ phi bạn có thể hoàn toàn thư giãn các cơ duỗi của các đốt ngón 2 hoặc 3 đầu tiên của các ngón 2 tới 5. Sự thư giãn này là cốt yếu của các tư thế ngón dẹt. trước nhất, bạn sẽ có khả năng bao gồm được tất cả những yêu cầu này chỉ ở tốc độ chậm. Tuy nhiên, ngay khi bạn đã phát triển bàn tay yên tĩnh, bạn sẽ đạt được năng lực/khả năng bao gồm chúng ở các tốc độ cao hơn. Trong thực tế, bởi vì các tư thế ngón này cho phép sự thư giãn và chủ động hoàn toàn, bạn sẽ có thể chơi ở tốc độ nhanh hơn nhiều. Đây là một trong (nhiều) lý do tại sao bàn tay yên tĩnh là vô cùng quan trọng.  


Giọng và màu sắc: Giọng đàn [tonality] được cải thiện sẽ là bằng chứng rõ ràng nhất khi chơi khẽ; chơi khẽ hơn cũng giúp sự thư giãn và chủ động. Tư thế ngón dẹt là cái có thể giúp chơi khẽ hơn với sự chủ động. Khẽ thế nào là khẽ? Điều này phụ thuộc vào bản nhạc, tốc độ,vv, nhưng cho các mục tiêu luyện tập thì một tiêu chí hữu dụng là chơi khẽ dần cho tới khi bạn bắt đầu đánh mất [miss] một vài nốt; mức cường độ này (hoặc lớn hơn một chút) thông thường là tốt nhất cho sự luyện tập kỹ thuật khẽ. Một khi bạn đã chủ động được giọng đàn (tức là âm thanh của từng nốt cá thể), hãy gắng thêm màu sắc vào cho bản nhạc của bạn (hiệu ứng của các nhóm nốt). Màu sắc của từng soạn nhạc gia là khác nhau. Chopin đòi hỏi chơi legato, special staccato, rubato (luyến tiếng, ngắt tiếng đặc biệt, và chơi nhịp tự do), vv.. Mozart đòi hỏi sự cực kỳ chú tâm tới các dấu hiệu diễn cảm. Beethoven đòi hỏi những tiết tấu không được phép gián đoạn (uninterrupted) mà chạy liên tục băng suốt nhiều, nhiều ô nhịp; do đó, bạn cần phát triển các kỹ năng “nối” các ô nhịp kế nhau trong nhạc Beethoven. Các Invention của Bach thì có phần bị giả tạo/tính toán và “áp đặt” bởi vì chúng bị hạn chế chủ yếu thành các nhóm parallel set đơn giản. Bạn có thể dễ dàng khắc phục sự khiếm khuyết này bằng cách nhấn mạnh vào vô số các ý niệm âm nhạc mà mang cho bản nhạc của ông cái chiều sâu âm nhạc hầu như vô tận. Nhạc cảm/tính (musicality) rõ ràng nhất thì xuất phát từ cuộc hòa âm/đối thoại giữa hai bàn tay. Kết của mọi tác phẩm phải là đặc biệt, và các phần kết của Bach là luôn thuyết phục.

Do đó, đừng để cho phần kết bắt kịp bạn; hãy chắc chắn rằng cái kết ấy là có chủ đích. Trong bản Invention này, phải đặc biệt chú ý ô nhịp 50, trong đó hai tay chuyển động nghịch chiều nhau khi bạn bước vào phần kết đầy uy lực (authoritative). Khi bạn đưa bản nhạc đạt tốc độ và phát triển bàn tay yên tĩnh, các câu chạy 6-nốt (ví dụ, 212345, vv.) nên được nghe tựa những đợt sóng dâng rồi hạ. Cú láy rền RH trill thì nghe như tiếng chuông (bell-like) bởi vì nó là một nốt toàn cung, trong khi cú láy rền LH trill thì nghe u tối hơn bởi vì nó là một bán cung. Khi luyện tập HS, lưu ý rằng cú RH trill thì không là một cú trill đơn giản bởi nó như thác đổ xuống cái kết. Tương tự, cú LH trill là một dẫn nhập vào cái đối âm kế theo với RH. Bạn không thể tạo sinh màu sắc trừ phi bạn nhấc từng ngón tay hoàn toàn chính xác vào thời điểm thích đáng. Hầu hết các tác phẩm bài học của Bach chứa các bài học về sự nhức các ngón tay một cách chính xác. Dĩ nhiên, sự tạo màu sắc đầu tiên nên được nghiên cứu HS. Bàn tay yên tĩnh cũng được thụ đắc dễ nhất HS; do đó, sự chuẩn bị HS thích đáng trước khi luyện tập HT là tối quan trọng cho giọng mà màu sắc. Một khi sự chuẩn bị này đã hoàn tất, bạn có thể khởi đầu HT và làm xuất hiện sự phong phú ngoài khả năng tưởng tượng của âm nhạc Bach ! 


Giọng và màu sắc không có một giới hạn nào theo nghĩa rằng một khi bạn đã thành công, nó lại thành dễ dàng hơn việc bổ sung thêm, và bản nhạc trong thực tế trở nên càng dễ chơi hơn. Rồi đột ngột, bạn phát hiện rằng bạn có thể chơi toàn bộ tác phẩm không mắc một lỗi có thể nghe thấy nào. Đây là lẽ là minh hoạ tốt nhất cho tuyên bố rằng bạn không thể tách rời kỹ thuật và âm nhạc. Hành động tạo âm nhạc đẹp làm bạn trở thành một người chơi piano tốt hơn. Điều này cung cấp một trong các lý giải cho sự tại sao bạn có những ngày tốt và những ngày xấu -- khi tâm trạng và sự thích nghi các ngón tay của bạn mà hoàn toàn thích đáng hầu bạn có thể chủ động giọng và màu sắc, bạn sẽ có một ngày tốt. Điều này dạy chúng ta rằng vào những ngày xấu, bạn có thể “hồi phục” bằng sự gắng nhớ lại các nhân tố nền tảng của phương thức mà bạn chủ động điều khiển được giọng và màu sắc của bạn. Lời này kết thúc các thảo luận về bản Invention 4. Giờ chúng ta quay lại nguyên tắc luyện tập.  


Bạn đã luyện tập được hơn một giờ rồi, và các ngón tay của đang bay bổng. Đây là lúc bạn có thể thực sự tạo sinh âm nhạc ! Bạn phải thực hiện mọi nỗ lực để luyện tập tạo sinh âm nhạc trong tối thiểu là phân nửa tổng thời gian luyện tập. Một khi bạn đã xây dựng được một nhạc mục trình diễn tương đối đủ lớn, bạn nên gắng đây “thời gian âm nhạc” này từ 50% lên 90%. Do đó, bạn phải một cách chủ định dự trữ tỷ lệ này của tổng thời gian luyện tập cho nhạc cảm. Hãy chơi bằng tất cả tâm hồn thể xác mà bạn có thể tập trung. Sự tìm kiếm lối diễn tấu diễn cảm là rất nhọc; do đó, ban đầu, nó sẽ đòi hỏi nhiều sự thích nghi và nỗ lực hơn bất cứ cái gì bạn có thể thực hiện với Hanon. Nếu bạn không có một vị thầy, thì những cách duy nhất mà từng được biết để học nhạc cảm/diễn cảm là lắng nghe các bản thu âm và đi dự các buổi hòa nhạc. Nếu bạn có kế hoạch trình diễn một tác phẩm cụ thể trong một tương lai gần, hãy chơi nó chậm, hoặc tối thiểu ở một tốc độ thoải mái và hoàn toàn chủ động một lần, trước khi tiếp tục tới một cái gì đó khác. Sự diễn cảm là không quan trọng khi chơi chậm. Trong thực tế, có thể là hữu ích để chủ ý chơi với rất ít diễn cảm khi chơi chậm trước khi chuyển sang một cái gì đó khác. 


Việc học Bach được đặc biệt nhấn mạnh trong sách này. Vì sao? Bởi vì các bản nhạc Bach mà được viết cho sự phát triển kỹ thuật là độc sáng duy nhất trong lĩnh vực sư phạm piano ở cái phương pháp lành mạnh, hoàn chỉnh, hiệu quả, và chính xác của nó cho sự thụ đắc kỹ thuật -- không có bất cứ cái gì khác tương tự như thế. Mọi giáo viên kinh nghiệm đều kê một số tác phẩm Bach cho học tập. Như đã đề cập bên trên, cái lý do duy nhất tại sao các nhạc sinh không luyện tập nhiều tác phẩm của Bach hơn là bởi vì, nếu không có các phương pháp luyện tập thích đáng, chúng dường là khó tới mực bất khả thi. Bạn có thể tự minh chứng các sự hữu lợi của các bài học của Bach bằng cách học 5 trong số các tác phẩm bài học cho kỹ thuật của ông và luyện tập chúng trong nửa năm hoặc dài hơn. Sau đó quay lại và chơi các tác phẩm khó nhất bạn từng học trước kia, rồi bạn sẽ kinh ngạc trước sự dễ dàng thoải mái và khả năng chủ động lớn hơn nhiều mà giờ bạn đã đạt được. Các tác phẩm của Bach được thiết kế để tạo dựng những nghệ sĩ piano hòa nhạc với kỹ thuật cơ bản vững đẹp. Các bản etude của Chopin không được thiết kế cho sự phát triển kỹ thuật tuần tự và hoàn chỉnh, và nhiều tác phẩm của Beethoven có thể gây chấn thương bàn tay và chấn thương tai nếu bạn không có được sử dụng thích đáng (có khả năng chính chúng đã làm tổn thương thính lực của Beethoven). Không ai trong hai nhạc sỹ đó dạy bạn cách luyện tập. Do đó, các tác phẩm của Bach đứng riêng rẻ nổi bật bên trên tất cả các tác phẩm khác cho sự phát triển kỹ thuật. Với các phương pháp luyện tập của sách này, chúng ta nay có thể tận dụng triệt để nguồn tài nguyên của Bach cho sự phát triển kỹ thuật mà tới nay vẫn bị sử dụng kém tới mực đáng đau lòng.  


Dĩ nhiên, Hanon, vv (có nhiều vị khác nữa, chẳng hạn Cramer-Bulow) là thậm chí không đáng được thảo luận ở đây bởi vì họ đã bỏ qua điểm quan trọng nhất : rằng, nếu không có âm nhạc/nhạc cảm, thì kỹ thuật trở thành bất khả. Nhưng các âm giai và các arpeggio là cần thiết là vì chúng hình thành cái nền trong thực tế của bất cứ cái gì chúng ta chơi. Sự đòi hỏi phải có nhạc cảm có nghĩa là chúng ta phải luyện tập chúng theo những cung cách mà sao cho, khi những người khác nghe bạn chơi âm giai, họ sẽ thốt “Chao ôi !”. Thế thì, cớ sao không luyện tập Hanon theo cùng cách này? Bạn có thể, song chúng là không cần thiết, bởi có rất nhiều các nhạc liệu tốt hơn để dùng cho sự luyện tập cái nghệ thuật của người nhạc sĩ.  


Tóm lại, không hề có bất cứ cái gì như là một nguyên tắc luyện tập chuẩn. Cái khái niệm về một nguyên tắc luyện tập cố định đã nảy sinh bởi vì những người thực hành các phương pháp bản năng những kẻ mà không hề biết cách dạy các phương pháp luyện tập đã sử dụng nó bởi vì họ nào có biết cái gì khác hơn để dạy. Với những người biết các phương pháp luyện tập, thì cái khái nguyên tắc luyện tập chuẩn trở thành một ý niệm có phần ngu ngốc. Lấy ví dụ, nguyên tắc luyện tập chuẩn có thể khởi đầu bằng các bài tập Hanon; tuy nhiên, bạn có thể nhanh chóng đẩy các bài tập Hanon lên những tốc độ phi thường bằng cách áp dụng các phương pháp của sách này. Và một khi bạn đã hoàn tựu điều đó, bạn bắt đầu thắc mắc rằng cớ gì bạn lại cần duy trì lặp đi lặp lại sự này. Bạn sẽ được cái lợi gì khi chơi các bài tập Hanon nhanh khủng khiếp hằng ngày??? Thay cho một nguyên tắc luyện tập chuẩn, bạn phải xác định mục tiêu của bạn cho từng buổi luyện tập là gì, và lựa chọn những phương pháp luyện tập cần thiết cho tiêu đích đó. Trong thực tế, nguyên tắc luyện tập của bạn sẽ không ngừng tiến triển/tiến hoá trong thời gian của từng buổi luyện tập. Do thế, cái chìa khoá cho sự thiết kế một buổi luyện tập tốt là một kiến thức thâm sâu về tất cả các phương pháp luyện tập. Nguyên tắc này khác biệt thế nào so với nguyên tắc luyện tập bản năng thì được miêu tả ở mục II.1 ! 

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Tập quán luyện tập “Lý tưởng”(Những chỉ dạy của Bach và bản Invention "2") (P67)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Tập quán luyện tập “Lý tưởng”(Những chỉ dạy của Bach và bản Invention "2") (P67)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt