Menu
Menu
Loading...
Loading...

Tâm lý học của việc Piano (P69)

Tất cả chúng ta đều nhận thức rằng tâm lý đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong âm nhạc, mà còn trong việc học piano. Có vô số cách để tận dụng sự hiểu biết về tâm lý học của chúng ta và chúng ta sẽ thảo luận một số trong các cách này ở mục này. Tuy nhiên, nhiệm vụ tức thì quan trọng hơn là khám phá những cạm bẫy tâm lý mà đã tạo dựng nên những chướng ngại hầu như không thể vượt qua trong việc học piano, chẳng hạn “thiếu tài năng”, hoặc “sự căng thẳng” khi trình diễn. Một ví dụ khác là cái hiện tượng về sự bất lực của các nghệ sĩ vĩ đại trong việc giảng dạy mà đã được thảo luận trong mục 16.e bên trên.

Hiện tượng đã được giải thích ở khía cạnh sự tiếp cận về mặt tâm lý của nhà nghệ sĩ đối với việc hướng dẫn mà phản ảnh sự tiếp cận về mặt tâm lý của nhà nghệ sỹ đó đối với âm nhạc. Bởi vì lĩnh vực tâm lý học của âm nhạc chỉ được hiểu tối thiểu, các soạn nhạc gia hoàn toàn sáng tạo âm nhạc trong đầu họ “từ sự không có gì hết” -- không hề tồn tại một cái gì như là một thứ công thức cho công việc sáng tạo âm nhạc. Họ một cách tương tự đã thụ đắc kỹ thuật bằng sự tưởng tượng cái [sản phẩm] đầu ra âm nhạc và sự để cho đôi bàn tay mình tìm một con đường/phương cách để hoàn tựu nó. Nó là một con đường tắt khủng khiếp để dẫn tới một kết quả phức tạp, khi nó có tác dụng. Tuy nhiên, với hầu hết nhạc sinh, nó là một con đường kém hiệu quả nhất cho sự thụ đắc kỹ thuật và chúng ta giờ biết rằng có những phương pháp/giải pháp tốt hơn. Dĩ nhiên, tâm lý học là quan trọng ở mọi thứ từ sự học, sự luyện tập và sự trình diễn cho tới việc sáng tác âm nhạc.

Tâm lý học thì được điều khiển chủ yếu bởi sự hiểu biết/kiến thức và thượng thì khó để phân biệt được giữa tâm lý và kiến thức.Trong hầu hết trường hợp, chính kiến thức là cái điều khiển cách mà chúng ta tiếp cận một đề tài. Nhưng chính tâm lý lại là cái quyết định cách chúng ta sử dụng kiến thức ấy. Giờ là lúc chúng ta sẽ xem xét một số hạng mục chuyên biệt. Có lẽ điều quan trọng nhất là cái cách mà chúng ta nhìn nhận việc học piano, hoặc thái độ chung của chúng ta đối với tiến trình học cách chơi piano.

Các phương pháp của sách này là đối nghịch tuyệt đối với các phương pháp “bản năng”. Lấy ví dụ, khi một nhạc sinh thất bại việc học piano, thì cái lý do, theo hệ thống cũ, sẽ là vì sự thiếu tài năng, và như vậy thì sự thất bại là lỗi của nhạc sinh đó. Theo hệ thống của sách này, thì sự thất bại lại là lỗi của người thầy bởi vì chính công việc của người thầy là phải cung cấp tất cả các thông tin cần thiết cho sự thành công [của học trò mình]. [Sách này] Không hề có một niềm tin mù quáng nào rằng việc luyện tập Hanon một tiếng đồng hồ hằng ngày sẽ biến bạn thành một nghệ sĩ trình tấu bậc thầy (virtuoso). Trong thực tế, không nên nương cậy vào bất kỳ niềm tin nào và chính trách nhiệm của người thầy là giải thích từng phương pháp sao cho học trò mình hiểu nó. Điều này đòi hỏi người thấy phải hiểu biết rộng trong một sự đa dạng rộng lớn các lĩnh vực khác nhau, từ nghệ thuật cho tới động vật học. Chúng ta phải đi tới một điểm trong lịch sử khi mà các vị thầy dạy hội hoạ/nghệ thuật không thể bỏ qua cái thực tại (sự giáo dục) nữa. Do đó, tâm lý học của sự học piano đòi hỏi những thay đổi sâu sắc trong những thái độ của cả học trò và thầy dạy.  


Với người học, đặc biệt là những nhạc sinh đã được rèn theo hệ thống cũ với các nguyên tắc sơ cứng, sự chuyển đổi từ cái cũ sang các phạm vi mới “rất dễ” gây hoàn toàn rối loạn. Một số nhạc sinh sẽ tức thì tán thưởng cái quyền hợp pháp được trao và sự tự do mới mẻ và, trong vòng một tuần, là sẽ đang tận hưởng những hoa lợi trọn vẹn của các phương pháp này. Ở thái cực nghịch lại là các nhạc sinh mà đã nhận thức rằng các nguyên tắc cũ là không còn hiệu lực nữa, và họ bắt đầu trông chờ tìm kiếm các “nguyên tắc mới” để mà tuân thủ. Họ đầy ứ các câu hỏi: Khi nào tôi phải xoay vòng một bàn tay, 10 lần có đủ chưa, hay tôi cần 10000 lần? Tôi phải xoay vòng nhanh hết sức mình có thể, hay là ở một tốc độ chậm hơn, chính xác hơn? Liệu luyện tập HS có là cần thiết không, ngay dẫu khi tôi đã có thể chơi HT rồi?

Với bản nhạc đơn giản, luyện tập HS có thể là vô cùng nhàm tẻ -- cớ sao tôi phải cần nó? Những câu hỏi như vậy hiển lộ cái mức độ mà người nhạc sinh đó đã thích nghi được với hệ tâm lý học mới này, hoặc đã thất bại việc thích ứng với nó. Để minh hoạ, chúng ta hãy phân tích-tâm lý câu hỏi cuối (vì sao lại cần HS?). Để hỏi một câu như vậy, người hỏi đó nhất định là đã đang luyện tập một cách mù quáng chỉ vì anh/cô ta đã đọc rằng luyện tập HS là cần thiết. Nói cách khác, anh/cô ta đã đang đi theo/tuân thủ một nguyên tắc một cách mù quáng. Đó không là một phương pháp của sách này. Ở đây, chúng ta trước nhất phải xác định một mục tiêu, rồi sử dụng luyện tập HS để đạt nó. Mục tiêu này có thể là sự ghi nhớ/thuộc lòng ]tác phẩm] một cách an toàn hơn nhằm tránh các điểm trượt trí nhớ trong các buổi trình diễn, hoặc là sự phát triển kết hợp hầu cho khi bạn chơi HT, bạn có thể nghe rằng sự chơi thì đặt nền tảng trên các kỹ năng kỹ thuật tối cao. Khi các mục tiêu này đã hoàn tựu, thì sự luyện tập sẽ không nhàm tẻ tí nào ! 

Với giáo viên, không có bất cứ cái gì hoài nghi nữa rằng thảy mọi thứ trong xã hội hiện đại đặt nền tảng trên một sự giáo dục rộng lớn. Hoàn toàn không cần thiết phải là một nhà khoa học hoặc phải nghiên cứu các khái niệm cao cấp trong tâm lý học. Sự thành công trong cái thế giới thực thì không bị trói buộc với các thành tựu hàn lâm; các doanh nhân thành công nhất không hề có mảnh bằng MBA. Có lẽ tiến bộ quan trọng nhất của xã hội hiện đại là rằng tất cả các khái niệm này mà xưa kia được cho là những kiến thức chuyên biệt đang trở thành dễ hiểu hơn , không bởi vì chúng đã thay đổi, mà vì một sự hiểu biết tốt hơn luôn làm đơn giản hoá chúng và các phương pháp giảng dạy thì không ngừng được cải thiện. Thêm vào đó, chúng ta đang trở nên thân thuộc hơn với chúng bởi vì chúng ta ngày càng cần chúng nhiều hơn trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Như vậy một người thầy chỉ cần có óc hiếu kỳ và sự sẵn lòng giao tiếp/truyền đạt, thì cái kết quả sẽ tự động theo sau.  


Nhiều nhạc sinh cần một công cụ tâm lý để khắc phục nỗi sợ hãi vô cơ sở của sự bất lực về trí nhớ. Trong sách này, chúng ta không chỉ nói về sự thuộc lòng bản Fur Elise. Chúng ta còn nói về một nhạc mục kéo dài hơn 5 tiếng đồng hồ với các tác phẩm âm nhạc đích thực, mà với hầu hết chúng, bạn có thể chỉ cần ngồi xuống rồi chơi chỉ chốc lát ngay sau khi được thông báo mời diễn. Cái đòi hỏi duy nhất cho sự duy trì trí nhớ cho một nhạc mục như thế là rằng bạn phải chơi piano hằng ngày. Một số người không hề gặp trở ngại nào về việc học thuộc, song hầu hết có thành kiến rằng sự học thuộc các nhạc mục đáng kể là dành cho chỉ một số ít ỏi các “thiên tài”. Nguyên do chính cho nỗi sợ hãi vô cơ sở này là sự trải nghiệm trong quá khứ mà trong đó các nhạc sinh được dạy trước nhất là chơi bản nhạc cho thật hoàn chỉnh, rồi sau đó mới được dạy cách học thuộc, cách mà, như đã được giải thích trong mục III.6, là một trong các cách khó thuộc nhất. Với các nhạc sinh mà đã được dạy đúng từ đầu, việc học thuộc thì tựa như một bản năng thứ hai vậy; nó là một phần hợp nhất [được lồng vào] của sự học bất kỳ một tác phẩm mới nào. Việc thích nghi và áp dụng phương pháp này sẽ tự động làm bạn trở thành một người có trí nhớ tốt/ người học thuộc giỏi, mặc dù với những người đã có tuổi, việc này có thể phải mất nhiều năm. 

Sự căng thẳng là một vấn đề trở ngại tâm lý khó khắc chế. Để thành công, bạn phải hiểu rằng sự căng thẳng chỉ là một tiến trình tâm lý thuần tuý. Cái hệ thống hiện nay của sự thúc ép các nhạc sinh trẻ tham gia các buổi trình diễn mà không có sự chuẩn bị thích đáng là phản lợi ích/vô hiệu quả, và thường khi tạo ra những nhạc sinh mà có xu hướng lâm vào những vấn đề trở ngại của sự căng thẳng lớn hơn là khi họ bắt đầu các bài học. Một khi một nhạc sinh đã bị trải nghiệm sự căng thẳng mãnh liệt từ trải nghiệm piano của mình, thì nó có thể gây tác động tiêu cực lên bất kỳ cái gì khác mà là tương tự, chẳng hạn việc phải xuất hiện ở các cuộc diễn hoặc bất kỳ hình thức trình diễn công cộng nào khác. Vì thế, cái hệ thống hiện nay là xấu cho sức khỏe tâm lý nói chung. Như đã thảo luận ở mục 15 bên trên, sự căng thẳng là một vấn đề trở ngại có thể được giải quyết ổn thoả cho hầu hết mọi người và một chương trình tốt để khắc chế sự căng thẳng sẽ góp phần xây dựng sức khỏe tinh thần nhờ niềm tự hào, niềm vui, và cái cảm giác của sự hoàn tựu mà bạn cảm nhận. Tâm lý thấm nhập và can thiệp vào mọi thứ mà chúng ta thực hiện ở piano, từ sự tạo động lực cho các nhạc sinh cho tới nền tảng căn bản của âm nhạc và sáng tác âm nhạc. Cách tốt nhất để tạo động cơ cho học trò bạn là dạy chúng các phương pháp luyện tập mà sự ấy rất tưởng thưởng với sự các học trò bạn không muốn bỏ học.

Các giải thi và các buổi trình diễn là những tác nhân tạo động cơ lớn, song chúng phải được dẫn dắt với sự cẩn trọng và với sự hiểu biết thích đáng về tâm lý học. Sự kích thích lớn nhất là các khía cạnh tâm lý của nền tảng căn bản của âm nhạc. Bach đã sử dụng các nguyên liệu nhạc đề đơn giản nhất, các nhóm parallel set, và chứng minh rằng chúng có thể được sử dụng để sáng tác thứ âm nhạc sâu sắc nhất từng được sáng tạo và/mà đồng thời lại có thể dạy chúng ta phương cách luyện tập. Mozart đã sử dụng một thứ công thức để sản xuất các tác phẩm hàng loạt; chúng ta nay đã hiểu được bằng cách nào mà ông đã soạn được nhiều đến thế trong quãng đời ngắn ngủi của ông. Beethoven đã sử dụng các khái niệm thuộc loại lý thuyết nhóm (group theoretical type concepts) để xây dựng một cột sống (backbone} cho các tác phẩm của mình. Ông đã chứng minh bằng cách nào bạn có thể duy trì hấp dẫn thính giả với một giai điệu quyến rũ ở RH trong khi vẫn chủ động điều khiển (controlling) các tình xúc cảm với LH, y hệt điều mà công nghệ truyền hình thực hiện ngày nay, bằng cách cho bạn xem một đoạn video đầy khích động trong khi chủ động điều khiển (controlling) các tình xúc cảm của bạn với các hiệu ứng âm thanh. Chopin, nổi danh vì sự lãng mạn và loại âm nhạc độc sáng không giống bất kỳ ai khác, đã sử dụng các công cụ toán học trong bản Fantaisie Impromptu để đây tốc độ bản nhạc đạt tới “ngưỡng âm thanh” (III.2), sản sinh những hiệu ứng đặc biệt lên não bộ mà có thể làm thôi miên thính giả. Âm giai bán cung (chromatic scale) được chuyển hoá từ các hợp âm và bản nhạc chảy theo các tiến trình hợp âm bởi vì các mối quan hệ về tần số này giúp đơn giản cho bộ nhớ và các quy trình xử lý dữ liệu thông tin của não bộ. Kỹ thuật không thể bị tách rời khỏi âm nhạc, và âm nhạc không thể bị tách ly khỏi tâm lý học; do thế, sự luyện tập piano không phải là sự xây dựng các cơ ngón tay hoặc các bài tập lặp đi lặp lại : kỹ thuật về căn bản là ở não bộ con người. Nghệ thuật và các nghệ sĩ mang chúng ta tới đó, từ rất lâu trước khi chúng ta có thể lý giải một cách phân tích lặp đi lặp lại tại sao chúng gây tác dụng.  

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập: Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Tâm lý học của việc Piano (P69)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Tâm lý học của việc Piano (P69)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt