Menu
Menu
Loading...
Loading...

Ngón cái dưới, ngón cái trên, động tác vuốt, xoay quanh trục (P29)

Ngón cái dưới, ngón cái trên, động tác vuốt, xoay quanh trục 

Gam và hợp âm rải là các đoạn piano cơ bản nhất và có hai cách để đàn chúng. Đầu tiên là phương pháp nổi tiếng “Ngón cái dưới” (Thumb Under – TU) và thứ hai là cái mà tác giả đặt tên là phương pháp “Ngón cái trên” (Thumb Over – TO).

Trong phương pháp “Ngón cái dưới”, ngón cái được đưa xuống dưới bàn tay để vượt qua ngón 3 hoặc ngón 4 để đàn gam. Hoạt động “Ngón cái dưới” này được hỗ trợ bởi hai cấu trúc độc đáo của ngón cái; nó ngắn hơn các ngón khác và có thể được di chuyển dưới lòng bàn tay.

Trong phương pháp “Ngón cái trên”, ngón cái được xem như các ngón khác và không di chuyển dưới lòng bàn tay, do đó làm đơn giản chuyển động, như đã thảo luận ở dưới. Cả hai phương pháp đều cần có để chơi gam nhưng mỗi phương pháp là cần thiết trong những tình huống khác nhau; “Ngón cái trên” cần cho các đoạn nhanh, khó và “Ngón cái dưới” hữu ích với các đoạn chậm, liền âm hoặc khi các nốt cần được giữ khi chơi các nốt khác.

Vì không có thuật ngữ nào tốt hơn, tôi đã đặt tên phương pháp “Ngón cái trên”, đó là một cái tên sai thấy rõ và có thể làm khó hơn cho người mới bắt đầu để hiểu cách chơi nó. Tôi đã thử các tên khác, nhưng không cái nào tốt hơn; một lợi thế của cái tên kỳ quặc này là có thể thu hút chú ý cho sự tồn tại của “Ngón cái trên”.

Khoảng trước năm 2010, nhiều giáo viên piano không biết về phương pháp “Ngón cái trên”, ngay cả ở nhạc viện. Điều này đặt ra rất ít khó khăn miễn là học viên không tiến tới nâng cao trình độ. Thực tế thì, với nỗ lực và làm việc vừa đủ, có thể chơi những đoạn khá khó bằng cách sử dụng phương pháp “Ngón cái dưới” và có những người chơi piano điêu luyện nghĩ rằng “Ngón cái dưới” là phương pháp duy nhất họ cần, vì đó là tất cả những gì họ được dạy. Trong thực tế, với những đoạn đủ nhanh, đặc biệt là với gam nửa cung, họ đã học để thay đổi phương pháp “Ngón cái dưới” theo cách gần như là phương pháp “Ngón cái trên”. Thay đổi này là cần thiết vì với các gam nhanh như vậy, không thể sử dụng “Ngón cái dưới” để chơi chúng.

Nhiều học viên luyện tập chậm lúc đầu và sau đó tăng tốc độ. Họ chơi tốt khi sử dụng “Ngón cái dưới” ở tốc độ chậm và do đó có được thói quen “Ngón cái dưới” và nhận ra được lúc họ lên tới tốc độ mà họ cần thay đổi để “Ngón cái trên”. Sự thay đổi này có thể là một bài tập làm nản chí và tốn thời gian, không chỉ đối với các gam, mà còn với bất cứ nhịp nhanh hay hợp âm nào – một lý do khác tại sao phương pháp tăng tốc để tăng tốc độ không được khuyến khích; tốc độ được tăng lên bằng cách tìm chuyển động mới.

Các cơ chính cho ngón cái để chơi piano là ở cẳng tay. Tuy nhiên, ngón cái có các cơ khác di chuyển nó trong phương pháp “Ngón cái dưới”. Những cơ phụ này làm “Ngón cái dưới” chuyển động phức tạp hơn làm chơi chậm, tạo ra ngưỡng tốc độ, và gây ra các lỗi. Giáo viên dạy “Ngón cái trên” cho rằng, đối với những người chỉ sử dụng “Ngón cái dưới”, 90% lỗi của họ bắt nguồn từ chuyển động “Ngón cái dưới” (Whiteside, Abby,).

Các nhược điểm của phương pháp “Ngón cái dưới” có thể được chứng minh bởi việc quan sát sự mất đi của chuyển động ngón cái ở vị trí bị che của nó. Đầu tiên, duỗi tất cả các ngón ra để chúng nằm trong một mặt phẳng. Tất cả các ngón, bao gồm ngón cái, có tính di động lên và xuống. Giờ thì, lắc lư ngón cái lên và xuống nhanh mà không cần xoay cẳng tay – nó có thể di chuyển 3 hoặc 4 cm theo chiều dọc một cách dễ dàng (nhanh chóng). Sau đó, trong khi vẫn lắc lư ở cùng một mức nhanh, từ từ kéo ngón cái xuống dưới bàn tay – khi nó ở dưới, nó sẽ mất tính di động thẳng đứng cho đến khi trở nên bất động, gần như là tê liệt, khi nó ở dưới các ngón giữa. Giờ thì hãy ngừng lắc lư và đẩy ngón cái xuống (không di chuyển cổ tay) – nó đã đi xuống rồi đấy! Điều này là bởi có một nhóm các cơ khác để đẩy ngón cái xuống. Sau đó, sử dụng các cơ mới, cố gắng di chuyển ngón cái lên và xuống thật nhanh – bạn sẽ thấy rằng các cơ mới vụng hơn nhiều và chuyển động lên xuống chậm hơn so với tốc độ lắc lư ngón cái khi nó được duỗi ra.

“Ngón cái trên” là dễ học hơn “Ngón cái dưới” vì nó không đòi hỏi sự vặn vẹo sang một bên của ngón cái, bàn tay, cánh tay, khuỷu tay và cần thiết cho “Ngón cái dưới”. Người mới bắt đầu nên được dạy “Ngón cái dưới” trước tiên bởi vì nó cần thiết cho các đoạn chậm và mất lâu hơn để học. Phương pháp “Ngón cái trên” cần được dạy ngay khi các gam nhanh được cần tới, trong vòng hai năm đầu của bài học. Với người học nhanh, “Ngón cái trên” phải được dạy ở các tháng của bài học đầu tiên của họ, ngay khi họ nắm vững “Ngón cái dưới”.

Vì có hai cách để luyện gam nên có hai trường phái dạy về cách luyện nó. Trường phái “Ngón cái dưới” (Czerny, Leschetizky) tuyên bố rằng “Ngón cái dưới” là cách duy nhất mà các gam liền âm có thể được chơi và rằng, nếu luyện tập đủ, “Ngón cái dưới” có thể luyện các gam ở bất cứ tốc độ nào. Trường phái “Ngón cái trên” (Whiteside, Abby,, Sándor) từng bước kiểm soát và các tín đồ nghiêm khắc hơn còn cấm sử dụng “Ngón cái dưới”, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cả hai thái cực đều sai vì cả hai kỹ năng này đều cần thiết.

Có thể hiểu được các giáo viên “Ngón cái trên” bị nản chí bởi thực tế là các học viên giỏi đã qua mặt họ vì giáo viên dạy tư thường không biết “Ngón cái trên” và mất vài tháng hoặc nhiều năm để sửa vài giờ của vốn tiết mục mà họ đã được học sai. Học viên cần chuẩn hóa tới “Ngón cái trên” và sử dụng “Ngón cái dưới” như một ngoại lệ cho quy tắc này. Chopin đã dạy cả hai phương pháp này (Eigeldinger, Tr. 37).

Dù phương pháp “Ngón cái trên” được phát hiện lại bởi Whitesides, v.v…, thì việc sử dụng sớm nhất của nó đã tồn tại ít nhất là từ Franz Liszt (Fay). Liszt được biết là đã ngừng biểu diễn và quay về cải tiến kỹ thuật của ông trong hơn một năm khi ông khoảng 20 tuổi. Ông đã không hài lòng với kỹ thuật của mình (nhất là về chơi gam) khi so sánh với các buổi biểu diễn đầy thu hút của Paganini trên violin, và thử nghiệm với kỹ thuật. Ở cuối thời kỳ này, ông xuất hiện đầy hài lòng với kỹ năng mới của mình nhưng lại không thể dạy người khác chính xác những gì ông đã làm để cải thiện – ông chỉ có thể chứng minh trên piano (điều này là đúng cho hầu hết các “bài giảng” của Liszt). Tuy nhiên, Amy Fay nhận ra rằng bây giờ ông chơi gam theo cách khác; thay vì “Ngón cái dưới”, Liszt đã “cuộn tay lại trên ngón tay đã đi qua” để ngón cái rơi trên phím tiếp theo. Phải mất nhiều tháng để Fay mô phỏng phương pháp này, nhưng theo cô, nó “hoàn toàn thay đổi cách chơi của tôi” và dẫn đến một cải tiến đáng kể về kỹ thuật của mình, không chỉ riêng việc chơi gam.

Làm thế nào để chơi “Ngón cái trên”: hãy xem xét RH, gam C trưởng đi lên, chơi 1231234. Ngón cái được chơi như các ngón khác; nó được nâng lên và hạ xuống mà không chuyển động TU dưới lòng bàn tay. Vì ngón cái ngắn hơn các ngón khác, nó có thể được đưa xuống gần như song song với các ngón đi qua mà không va vào nó. Di chuyển bàn tay để ngón cái di chuyển về phía vị trí mới. Cẳng tay nên để khoảng 45 độ so với bàn phím (chỉ tay trái); điều này cũng di chuyển ngón cái đúng hướng. Đối với gam như C trưởng, cả ngón cái và ngón đã chơi xong đều ở trên phím trắng và hiển nhiên sẽ lấn nhau, do đó bạn cần cuộn các ngón lại. Tay được cuộn trên ngón tay đã chơi xong bằng cách dùng ngón tay đã chơi xong như một trục. Ngón đã chơi xong sau đó phải nhanh chóng được chuyển đi khi ngón cái rơi xuống. Không thể giữ ngón đã chơi xong lại tới khi ngón cái chơi, khác với phương pháp “Ngón cái dưới”. Khi bạn thử phương pháp “Ngón cái trên” lần đầu, gam sẽ không đều và có thể có một “khoảng trống” khi chơi ngón cái. Do đó, việc chuyển đổi từ ngón đã chơi xong cho ngón cái phải nhanh ngay cả trong một gam chơi chậm.

Động tác Vuốt: Khi luyện gam nhanh, định hướng tay/cánh tay nên giống với một cái vuốt, với vòng xoay cẳng tay nhỏ (RH đi lên, ngửa tay [(36) Chuyển Động Bàn Tay]) để tất cả các ngón chỉ hơi ngửa. Động tác này đặt ngón cái gần hơn với các ngón đã chơi xong, tạo thành các đường chuyền mượt, và các đầu ngón tay di chuyển lùi sau mỗi phím nhấn. Chuyển động lùi này giúp giữ các ngón tay trên các phím khi bàn tay di chuyển về trước. Đây là một trong những động tác quan trọng nhất được dạy bởi Chopin (Fraser). Trong “Ngón cái trên”, tay luôn di chuyển nhịp nhàng về trước, nhưng véc tơ lực trên phím là thẳng xuống, bởi động tác vuốt.

Xoay quanh trục có thể được dùng để chơi liền âm “Ngón cái trên”, mà không cần dùng “Ngón cái dưới”, một phương pháp được dạy bởi Combe. Trong động tác này, các ngón và bàn tay đang xoay quanh đầu ngón đã chơi xong để các ngón đã chơi xong nằm trên phím càng lâu càng tốt. Chuyển động xoay quanh trục đòi hỏi một vòng xoay cẳng tay theo chiều kim đồng hồ (ngửa tay, RH đi lên). Luyện tập qua và xoay quanh trục ngón 3 sử dụng thao tác ngón 123123123123…. chỉ trên các phím trắng (C trưởng). Tương tự, luyện tập xoay quanh trục trên ngón 4 sử dụng thao tác ngón 1234123412341234. . . . Vì một động tác xoay quanh trục thành thạo có thể tạo ra liền âm xuất sắc, nhất là với những đoạn chậm, một số giáo viên cho rằng “Ngón cái dưới” là không cần thiết.

Người mới bắt đầu thấy “Ngón cái trên” dễ hơn “Ngón cái dưới”, nhưng những người học “Ngón cái dưới” trong nhiều năm lúc đầu có thể thấy “Ngón cái trên” vụng về, không đều, và khó hiểu vì việc thay đổi thói quen “Ngón cái dưới” là rất khó khăn.

Với gam RH đi xuống, bạn xoay và nhấn đồng thời ngón cái, điều này dễ hơn xoay quanh trục và đồng thời nhấn ngón đã chơi xong đối với gam RH đi lên. Động tác vuốt giờ ngược lại, để các ngón hướng sang phải (tay ngửa). Vị trí cẳng tay 45 độ không thay đổi.

Đối với “Ngón cái trên”, chuyển động của ngón cái được kiểm soát chủ yếu bởi bàn tay trong khi đối với “Ngón cái dưới”, động tác kết hợp của các ngón và bàn tay xác định vị trí ngón cái. Vì động tác tay nhịp nhàng, ngón cái được định vị chính xác đối với “Ngón cái trên” hơn “Ngón cái dưới”, do đó làm giảm các lỗi. Gam đi lên trở nên giống với gam đi xuống, vì bạn nhấn đồng thời các ngón đã chơi xong. Chơi hai tay cùng nhau trở nên dễ hơn vì tất cả các ngón của cả hai tay luôn nhấn đồng thời. Thêm nữa là ngón cái bây giờ có thể chơi một phím đen. Với những học viên chỉ biết “Ngón cái dưới”, ngón cái không được “tự do”. Chúng ta sẽ thấy rằng một ngón cái tự do là ngón linh hoạt nhất [(31) Ngón Cái, Ngón Tay Linh Hoạt Nhất, Ngón Cái Quyền Lực].

LH ngược lại với RH.

Do một số học sinh gặp khó khăn trong việc hình dung “Ngón cái trên” nên tôi đã đăng một đoạn video của “gam “Ngón cái dưới”-“Ngón cái trên”” trên Youtube: https://www.youtube.com/watch?v= ZLTbURVEEO4

Đoạn video cho thấy RH chơi hai quãng tám “Ngón cái trên”, đi lên và đi xuống, chơi hai lần. Điều này sau đó được lặp đi lặp lại sử dụng TU. Với những người không chơi piano, chúng có thể xem là về cơ bản giống nhau, mặc dù các chuyển động “Ngón cái dưới” hơi phóng đại. Điều này cho thấy tại sao video của động tác piano không hữu ích như người ta có thể nghĩ. Các động tác “Ngón cái trên” đi lên về cơ bản là đúng. Các động tác “Ngón cái trên” đi xuống thì có một lỗi – phần đốt móng tay hơi cong của ngón cái. Ở tốc độ vừa phải, sự cong nhẹ này không ảnh hưởng đến việc chơi, nhưng trong “Ngón cái trên” chính xác, ngón cái nên giữ thẳng cho cả đi lên và đi xuống. Ví dụ này minh chứng tầm quan trọng của việc học “Ngón cái trên” càng sớm càng tốt. Xu hướng cong đốt móng tay của tôi là kết quả của việc chỉ dùng “Ngón cái dưới” trong nhiều thập kỷ, trước khi tôi học “Ngón cái trên”. Hãy xem những bài học về luyện gam trên Youtube của người khác và bạn sẽ thấy hầu hết họ chỉ dạy “Ngón cái dưới”. Tuy nhiên, khi họ luyện gam nhanh, họ sử dụng các động tác gần giống “Ngón cái trên”. Để xem những video động tác chậm, hãy bấm YoutubeSlow. Động tác không được thể hiện trong video của tôi là động tác vuốt và hành động xoay quanh trục trên ngón đã chơi xong với “Ngón cái trên” liền âm.

Làm thế nào luyện tập các gam nhanh “Ngón cái trên”: RH gam C trưởng đi lên bao gồm các bộ song song (PSS) 123 và 1234. Đầu tiên, luyện tập 123 nhanh, với 1 trên C4. Sau đó, luyện tập 1231 với động tác “Ngón cái trên”. 1 sau cùng trong 1231 là sự kết hợp (quy tắc liên tục). Lặp lại với 1234, với 1 ở F4, và sau đó 12341, với 1 nhấn cùng 4, và hạ xuống C5. Chơi ngón 234 gần với các phím đen để ngón cái có nhiều chỗ hơn để hạ xuống. Xoay cẳng tay và cổ tay để các đầu ngón tay của 2345 tạo một đường thẳng song song với bàn phím. Cẳng tay nên tạo thành góc khoảng 45 độ so với bàn phím. Sau đó kết hợp hai PS lại để hoàn thành quãng tám. Sau khi bạn có thể chơi một quãng tám, hai quãng tám, v.v… Hãy luôn chơi với đầu ngón cái, hướng về trước của móng ngón cái.

Một quãng tám nhanh (khoảng 1 quãng tám / giây.) nên đạt được sau vài phút luyện tập với những ai đã luyện piano trong hơn một năm (đừng bận tâm là đã đều hay chưa!). Luyện tập thư giãn tới khi bạn có thể cảm thấy sức nặng của cánh tay. Khi bạn đã thành thạo với “Ngón cái trên”, các gam dài cũng sẽ dễ như các gam ngắn và HT sẽ dễ hơn với “Ngón cái dưới”. Không bao giờ cần luyện tập các gam nhanh HT và cho đến khi bạn đã khá thành thạo, luyện tập gam HT nhanh sẽ có hại nhiều hơn có lợi vì nó lãng phí quá nhiều thời gian cho chỉ một chút lợi ích, và gây căng thẳng. Hầu hết giáo viên giỏi (Gieseking) xem luyện tập HT gam nhanh là sự lãng phí thời gian.

Để tăng tốc PS, RH 123 và 1234, chơi chúng với một động tác đi xuống của bàn tay, gồm cả sự kết hợp. Để kết hợp hai PS, bạn có thể xoay cẳng tay hoặc giơ tay lên ở phần cuối của PS đầu. Chuyển động cổ tay lên xuống được ưa thích hơn xoay cẳng tay vì nó đơn giản hơn, và xoay cẳng tay có thể được dành cho việc khác (Sandor). Nếu giờ bạn cố gắng chơi vài quãng tám, lúc đầu nó có thể biểu lộ như một bàn giặt.

Cách nhanh nhất để tăng tốc luyện gam là lặp lại chỉ một quãng tám, lên và xuống liên tục. Một khi bạn đã lên tốc độ nhanh hơn, lặp lại 2 quãng tám lên và xuống. Ở tốc độ cao, các quãng tám ngắn hơn này hữu ích hơn bởi bạn cần phải luyện tập cách đảo hướng đầu và đuôi. Cách để chơi nhanh đảo phía trên và phía dưới là chơi chúng với duy nhất một lực giảm dần của bàn tay và đảo hướng vuốt trước khi bạn tới mỗi bên. Ví dụ, để đảo đầu, chơi PS cuối đi lên, kết hợp, và PS đầu đi xuống, tất cả trong một chuyển động đi xuống. Ở sự phối hợp này, sự kết hợp được loại bỏ một cách hiệu quả bằng cách tích hợp nó vào một trong những PS. Đây là một trong những cách hiệu quả nhất để chơi một kết hợp nhanh – bằng cách làm cho nó biến mất! Đồng thời, đảo hướng vuốt trước khi bạn tới phần đầu.

Do đó, động tác vuốt cho phép tay lướt mượt mà. Luyện tập động tác này khi lặp lại một quãng tám lên xuống; động tác vuốt nên giống động tác nghiêng người của một vận động viên trượt băng, với chân đá ngang luân phiên và cơ thể nghiêng trái và phải. Tay nên sấp hoặc ngửa với mỗi sự đổi hướng của quãng tám. Như trong trượt băng, bạn phải nghiêng theo hướng ngược lại trước khi đổi hướng chuyển động, sự đảo hướng tay vuốt phải thực hiện trước sự đổi hướng gam ở tốc độ nhanh.

Đối với RH đi xuống gam “Ngón cái trên”, luyện tập PS 54321, và các PS khác có liên quan, có và không kết hợp chúng. Tạo một sự thay đổi nhỏ để tránh để ngón cái gập lại hoàn toàn dưới bàn tay trong khi PS tiếp theo được nhấn cùng lúc với ngón cái. Nhấc ngón cái càng sớm càng tốt trong khi giữ gam vẫn nhịp nhàng, bằng cách nâng và/ hoặc xoay cổ tay để kéo ngón cái lên – gần như ngược lại những gì đã được thực hiện với gam đi lên. Nếu ngón cái gập hoàn toàn dưới lòng bàn tay, nó sẽ bị đơ và khó để di chuyển đến vị trí tiếp theo. Đối với chơi “Ngón cái dưới”, ngón cái có thể được phép gập hoàn toàn dưới lòng bàn tay. Vì động tác này có phần tương tự giữa “Ngón cái trên” và “Ngón cái dưới”, và chỉ khác nhau ở mức độ, nó dễ bị chơi không chính xác. Dù sự khác biệt trong động tác là nhỏ để nhìn thấy, sự khác biệt trong cảm nhận với người chơi piano sẽ rõ như đêm với ngày đối với các đoạn nhanh.

Đó là bài học luyện tập gam trưởng B để luyện tập “Ngón cái trên”. Xem bảng 1.1 [(29) Gam: Ký Hiệu Và Ngón Bấm] cho các ngón bấm gam. Ở gam này, chỉ ngón cái và ngón út chơi các phím trắng, trừ ngón tay bắt đầu ở dưới (4) của LH. Tất cả ngón khác chơi các phím đen. Gam này có những ưu điểm sau:

(1) Nó dễ chơi hơn, nhất là cho những người có bàn tay to hoặc ngón tay dài. Mỗi phím rơi tự nhiên theo từng ngón và có nhiều chỗ cho mỗi ngón. Vì lý do trên, Chopin dạy gam này cho người bắt đầu trước khi dạy gam C trưởng.

(2) Nó được dùng để luyện tập chơi các phím đen sử dụng các tư thế ngón ngang phè. Các phím đen khó chơi hơn (dễ bị bỏ lỡ hơn) khi dùng tư thế cong vì chúng hẹp hơn, và đòi hỏi độ chính xác cao hơn. Người mới bắt đầu thường không thích các phím đen vì lý do này. Các tư thế ngón ngang phè hoàn toàn giải quyết được vấn đề này.

(3) Các tư thế ngón ngang phè tốt hơn cho luyện tập liền âm và kiểm soát âm. Điều này xây dựng sự tự tin khi chơi các phím đen.

(4) Chơi “Ngón cái trên” dễ hơn với gam này. Đây là lý do tại sao C trưởng được dùng để minh họa cho phương pháp “Ngón cái trên”: với B trưởng, nó khó hơn để thấy sự khác biệt giữa “Ngón cái dưới” và “Ngón cái trên” vì “Ngón cái dưới” là không cần thiết. Tuy nhiên, một khi bạn hiểu được sự khác biệt, B trưởng là tốt hơn cho thực hành “Ngón cái trên” vì nó dễ hơn.

(5) Các ngón cái LH, RH được đồng bộ trong gam B trưởng, làm nó có thể luyện tập HT, PS bằng PS. Vì vậy chơi HT là dễ hơn so với gam C trưởng. Khi bạn trở nên thành thạo HT với B trưởng, học HT C trưởng trở nên dễ hơn, tiết kiệm thời gian. Nếu bạn muốn thể hiện bạn luyện gam tốt như thế nào, hãy dùng B trưởng !! Cảm ơn, Freddie!

Những người chỉ học “Ngón cái dưới” phải học cả “Ngón cái trên”. Lúc đầu, có thể cảm thấy như thể các ngón rối hết cả lên và hiểu được “Ngón cái trên” thật là khó. Thì tin tốt là bạn đã biết cách chơi “Ngón cái trên” rồi đấy! Hãy chơi một gam nửa cung thật nhanh, bắt đầu với C, (RH): 13131231313. . . . . Nếu bạn có thể chơi một gam nửa cung nhanh, chuyển động ngón cái giống với “Ngón cái trên” vì không thể chơi “Ngón cái dưới” một gam nửa cung nhanh. Giờ thì hãy làm chậm chuyển động ngón cái gam nửa cung nhanh này và chuyển sang gam B trưởng.

Khi “Ngón cái trên” B trưởng đã thành thạo, hãy áp dụng động tác này cho C trưởng. Sự khác biệt duy nhất giữa chơi “Ngón cái trên” một gam và gam nửa cung là bạn có thể chơi gam nửa cung với bàn tay gần như vuông góc với bàn phím, thay vì gần 45 độ cho gam. Bạn sẽ thấy động tác vuốt cũng hữu ích với gam nửa cung, nhưng xoay tay thì nhỏ hơn nhiều.

Những người còn mới lạ với “Ngón cái trên”, và đã học các bản nhạc bằng cách dùng “Ngón cái dưới”, phải chuyển đổi mọi thứ sang “Ngón cái trên”. Một cách thực hiện việc chuyển đổi là luyện tập gam và hợp âm rải đầu tiên để trở nên thoải mái với “Ngón cái trên”. Sau đó học vài tác phẩm mới sử dụng “Ngón cái trên”. Sau khoảng 6 tháng hoặc hơn, khi “Ngón cái trên” đã trở nên thoải mái, bắt đầu chuyển đổi tất cả phần cũ sang “Ngón cái trên”.

“Ngón cái trên” và “Ngón cái dưới” là những thái cực trong hai cách dùng ngón cái: có một chuỗi các chuyển động trung gian giữa chúng. Học “Ngón cái trên” sẽ cải thiện cách bạn chơi “Ngón cái dưới” vì ngón cái trở nên có khả năng nhiều hơn: nó được tự do. Sự tự do này chuyển ngón cái thành ngón tay linh hoạt nhất (phần tiếp theo).

Chúng ta không bao giờ có thể luyện gam đủ cả. Khi luyện gam, hãy luôn cố gắng hoàn thành cái gì đó – mượt hơn, mềm mại hơn, rõ hơn, chính xác hơn. Hãy chắc chắn sẽ luyện tập ngắt âm sau khi tập với PS. Làm cho tay lướt, gam hát; thêm sắc màu và sự phấn khích vào. Không có thứ gọi là tốc độ tối đa trong chơi song song. Tốc độ và độ chính xác có thể được tăng lên suốt đời – điều này thật thú vị và chắc chắn là gây nghiện. Để chứng minh tốc độ hoặc gây ấn tượng với khán giả, bạn có thể sử dụng gam và hợp âm rải ít nhất cũng như bất kỳ bản nhạc nào, miễn là bạn đã luyện tập du dương mọi lúc.

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Ngón cái dưới, ngón cái trên, động tác vuốt, xoay quanh trục (P29)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Ngón cái dưới, ngón cái trên, động tác vuốt, xoay quanh trục (P29)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt