Menu
Menu
Loading...
Loading...

Chức năng Ghi nhớ con người; Âm nhạc = Thuật toán Ghi nhớ - Memory Algorithm (P58)

Chức năng Ghi nhớ của não bộ vẫn chưa được hiểu biết tường tận. Chưa có chứng cứ nào về sự tồn tại của  "trí nhớ chụp ảnh" theo sát nghĩa của cụm từ này, mặc dù tôi đã sử dụng thuật ngữ đó trong cuốn sách này. Tất cả mọi dữ liệu nhớ/ ký ức đều mang tính liên tưởng. Do đó,  khi chúng ta "nhớ" theo phương diện hình ảnh một bức tranh của Monet, chúng ta thực tế đang liên tưởng các đề tài hội hoạ với cái gì đó sâu hơn trong trí nhớ/ký ức của chúng ta, chứ không chỉ như một bức tranh hai chiều được tạo bởi vô số ảnh điểm (pixel). Đây là lý do tại sao các tác phẩm hội hoạ vĩ đại hoặc các tác phẩm nhiếp ảnh khác thường thì dễ nhớ hơn những hình ảnh tương tự mà kém ý nghĩa hơn, dù rằng cả hai có thể có cùng  băng thông (tổng số điểm ảnh). Một ví dụ khác, nếu bạn chụp ảnh hình một đường tròn trên một tờ giấy, bức ảnh ấy sẽ là chính xác; đường kính và vị trí của hình tròn đó sẽ là đúng chính xác. Nhưng nếu bạn  thực hiện một "trí nhớ chụp ảnh" của cùng hình tròn đó trong đầu rồi thử hoạ lại nó trên một trang giấy khác, thì đường kính và vị trí của hình tròn đó sẽ là khác.

 

Điều này nghĩa là bạn đã ghi nhớ nó về phương diện  ý niệm [conceptually] (tức là sự liên tưởng nó với một số kiến thức về hình tròn bạn sẵn có và các kích cỡ và vị trí xấp xỉ). Thế thì cái trí nhớ chụp ảnh cho một tổng phổ âm nhạc thì ra sao? Tôi thực sự có thể thấy nó trong đầu tôi ! Nó chẳng là ảnh chụp đó sao? Quả dễ dàng để chứng minh rằng cả hiện tượng này cũng thế, chỉ là liên tưởng  -- trong trường hợp này, nó được liên tưởng với âm nhạc. Nếu bạn yêu cầu một nhạc sĩ có trí nhớ "chụp ảnh" cách học thuộc cả một trang chứa đầy các nốt nhạc sắp đặt ngẫu nhiên, ông ta sẽ gặp vô cùng khó khăn việc ghi nhớ/học thuộc dù chỉ một trang như vậy, mặc dù ông ấy không gặp khó khăn hơn nào khi ghi nhớ/học thuộc một cách chụp ảnh cả một bản Sonata dài 20 trang một cách chóng vánh. Đây là lý do tại sao  không có phương cách nào học thuộc một tác phẩm (phương pháp chụp ảnh hoặc các phương pháp khác) tốt hơn là khởi từ quan điểm lý thuyết âm nhạc. Tất cả điều bạn phải làm là liên tưởng bản nhạc đó với lý thuyết âm nhạc rồi bạn sẽ nhớ nó. Nói cách khác,  khi con người ghi nhớ một cái gì, họ không lưu trữ các bit dữ liệu trong não bộ như một máy vi tính, mà họ liên tưởng cái dữ liệu ấy với một cái khung nền hoặc là một "thuật toán" mà nó được lập thành bởi những thứ tương tự nhau bên trong não bộ họ. Ở ví dụ này, lý thuyết âm nhạc chính là cái khung nền đó. Dĩ nhiên, một người có trí nhớ siêu việt  (kẻ có thể không là nhạc sĩ) có thể phát triển các phương pháp để ghi nhớ ngay cả một chuỗi ngẫu nhiên các nốt nhạc bằng  cách sáng tạo ra một thuật toán thích hợp, như chúng ta sắp lý giải sau. 


Chứng cứ tốt nhất cho đặc tính liên tưởng của trí nhớ con người đến từ những thử nghiệm trên những người có trí nhớ tốt  mà có thể thực hiện những kỳ tích vượt sức tưởng tượng về trí nhớ chẳng hạn thuộc hằng trăm số điện thoại trong một niên bạ điện thoại,vv. Có rất nhiều những giải thi về trí nhớ cho những siêu nhân nhó đó ganh đua. Các siêu nhân này đã được phỏng vấn chi tiết và hoá ra là chẳng ai trong họ nhớ theo phương diện chụp ảnh, mặc dù kết quả cuối cùng thì hầu như không thể phân biệt được với trí nhớ chụp ảnh. Khi được hỏi cách ghi nhớ, thì rốt cuộc là tất cả họ đều sử dụng các thuật toán liên tưởng. Thuật toán này thì khác nhau ở từng người (ngay dù với cùng nhiệm vụ), nhưng chúng thảy đều là các sáng tạo cho sự liên tưởng các đối tượng cần được nhớ với cái gì đó mà mang một khuôn mẫu mà họ có thể nhớ.

 

Lấy ví dụ, để thuộc hằng trăm số điện thoại, một thuật toán là liên tưởng một âm thanh với một số. Các âm đã được chọn sao cho chúng hình thành các "từ" khi kết nối nhau, không bằng Anh ngữ, mà bằng một thứ tân "ngôn ngữ" mà được sáng tạo cho mục đích này. Tiếng Nhật là một ngôn ngữ có một đặc tính như vậy. Ví dụ, căn bậc hai của 2 là 1.41421356 mà có thể đọc như một câu tiếng Nhật mà dịch nôm na thành, "những người đẹp, những người đẹp mà xứng ngắm", và người Nhật có tập quán sử dụng những thuật toán như vậy để ghi nhớ những chuỗi số chẳng hạn các số điện thoại.  Cho 7 chữ số thập phân, thì căn bậc hai của 3 được họ đọc thành "Đãi toàn thế giới !"  còn căn bậc hai của 5 đọc thành "Trên ga thứ 6 của đỉnh Fuji, một con cú mèo đang khóc." Điều kỳ diệu là cái tốc độ mà những người có trí nhớ siêu việt này có thể sắp đặt đối tượng cần nhớ vào trong thuật toán của họ. Điều hoá ra nữa là các siêu nhân trí nhớ này cũng chẳng bẩm sinh, mặc dù họ có thể là bẩm sinh với những năng lực thần kinh mà có thể dẫn tới trí nhớ tốt. Các siêu nhân trí nhớ này phát triển sau nhiều rèn luyện cam go trong sự hoàn thiện các thuật toán của họ và luyện tập chúng hằng ngày, y như những người chơi piano vậy. Sự "rèn luyện cam go" này tiến hành một cách thoải mái bởi họ yêu thích nó. 


Một thuật toán đơn giản, song kém hiệu quả hơn để nhớ các chữ số là đặt chúng thành một câu chuyện. Giả sử bạn muốn nhớ chuỗi số gồm 14 chữ số  53031791389634. Cách ghi nhớ nó là đặt một câu chuyện thế này : "Tôi thức dậy lúc 5:30 sáng với 3 em trai của tôi cùng 1 người bà; tuổi các em tôi là  7, 9, và 13, còn tuổi bà tôi là 89, và chúng tôi đi ngủ lúc 6:34 chiều." Đây là một thuật toán dựa trên trải nghiệm sinh hoạt, mà biến những con số ngẫu nhiên trở thành "có ý nghĩa". Điều lý thú là thuật toán chứa 31 từ, ấy nhưng lại dễ nhớ hơn 14 chữ số nhiều. Trong thực tế bạn đã thuộc trên một trăm cả chứ cái và chữ số dễ dàng hơn thuộc 14 chữ số! Bạn có thể dễ dàng tự thực hiện thí nghiệm này. Đầu tiên thử nhớ dãy số trên bằng cả hai cách, nhớ  trực tiếp 14 chữ số (nếu bạn có thể -- điều chẳng dễ với tôi) và bằng thuật toán trên. Rồi 24 giờ sau, hãy thử viết lại chuỗi số đó từ trí nhớ và từ thuật toán; bạn sẽ phát hiện rằng thuật toán là dễ hơn và chính xác hơn nhiều. Tất cả những người có trí nhớ tốt đều phát minh ra những thuật toán hiệu quả ngoài sức tưởng tượng và đã đào luyện cái nghệ thuật chóng vánh chuyển dịch bất cứ dữ liệu cần nhớ nào thành các thuật toán của mình.  
Liệu người chơi piano có thể tận dụng việc sử dụng các thuật toán hiệu quả này? Dĩ nhiên là có! Làm thế nào Liszt có thể thuộc và trình diễn trên 80 tác phẩm chỉ trong một thời gian ngắn? Không có bất kỳ biểu hiện cho thấy rằng ông có một năng lực nhớ đặc biệt nào, như vậy ông tất đã sử dụng một thuật toán.  Mà thuật toán đó thì khắp quanh chúng ta  – nó được gọi là âm nhạc ! Âm nhạc là một trong các thuật toán hiệu quả nhất cho việc ghi nhớ một lượng to lớn dữ liệu. Trong thực tế  các nghệ sĩ piano có thể thuộc nhiều bản Sonata của Beethoven một cách dễ dàng. Từ quan điểm các bit dữ liệu,  thì mỗi bản sonata tương ứng trên 1000 con số điện thoại. Như thế tương đương việc chúng ta phải nhớ hơn 10 trang niên giám điện thoại  – một điều sẽ được coi là phép màu nếu chúng thực sự là các con số điện thoại. Và chúng ta có thể nhớ nhiều hơn nếu chúng ta không phải mất nhiều thời gian cho việc luyện tập kỹ thuật và diễn cảm. Do đó, những điều mà những người chơi piano đạt được hằng ngày là không khác với những kỳ tích mà  những “thiên tài trí nhớ” nhờ chúng mà nổi tiếng . Âm nhạc là một thuật toán hiệu quả bởi vì nó tuân thủ những quy luật nguyên tắc chặt chẽ. Các soạn nhạc gia, chẳng hạn Liszt, đã quen thuộc với các nguyên tắc và công thức này và có thể nhớ nhanh hơn (xem mục IV.4 Công thức của Mozart). Hơn nữa, logic âm nhạc là bẩm sinh trong tất cả chúng ta. Do vậy, các nhạc sỹ có một ưu thế hơn mọi nghề nghiệp khác về phương diện trí nhớ, và hầu hết chúng ta đều có khả năng đạt tới một trình độ trí nhớ gần với của những nhà đấu thủ trong các giải thi trí nhớ. Đây là vì chúng ta biết nhiều về cách nó được thực hiện.

 
Giờ thì bạn đã có thể hiểu được cách những người có trí nhớ tốt sử dụng để ghi nhớ được nhiều trang số điện thoại. Họ đơn giản là  sáng tạo một "câu chuyện", thay cho một dãy chữ số. Lưu ý rằng một người già 90 tuổi có thể chẳng nhớ được tên của bạn, ấy mà cụ lại có thể ngồi xuống và kể bạt ngàn những câu chuyện trải nhiều giờ hoặc thậm chí nhiều ngày từ trí nhớ. Mà cụ ta đâu hề thuộc hàng chuyên gia trí nhớ nào đâu để thực hiện việc này. Theo đó nếu bạn biết sử dụng não bộ của mình, bạn có thể thực hiện những điều mà thoạt đầu ngỡ chừng là tuyệt đối bất khả. 


Thế thì, tất cả những sự liên tưởng này thực tế là cái gì  mà nếu không có chúng thì có những điều chúng ta không thể thực hiện được? Có lẽ cách đơn giản nhất để miêu tả sự này là rằng sự liên tưởng giúp chúng ta hiểu được đối tượng cần ghi nhớ. Đây là một định nghĩa hữu ích bởi vì nó có thể giúp thảy mọi người hoạt động tốt hơn ở nhà trường, hay trong bất kỳ lĩnh vực học tập nào. Nếu bạn thực sự hiểu được vật lý hay toán học hay hoá học,  thì bạn không cần nhớ nó, bởi vì bạn không thể quên nó. Điều này nghe dường như vô nghĩa bởi vì  chúng ta đã dịch chuyển câu hỏi của chúng ta từ  "trí nhớ là gì?" sang câu hỏi "liên tưởng là gì?" rồi sang "hiểu là gì?". Sẽ không hề vô ích nếu như chúng ta có thể định nghĩa hiểu là gì: nó là một quy trình của não bộ cho sự liên tưởng một đối tượng mới với các đối tượng khác (mà càng nhiều càng tốt !) mà chúng ta đã sẵn quen thuộc. Nghĩa là, cái đối tượng mới ấy giờ trở thành "có ý nghĩa". 


Thế "hiểu" và "có ý nghĩa" thì nghĩa là gì? Chức năng nhớ của con người có vô số thành tố, chẳng hạn [thành tố liên quan tới] nhìn, nghe, chạm, tình cảm, ý thức, tự động, ngắn hạn, dài, vv. Do đó, bất kỳ dữ liệu đầu vào nào (input} bên trong não bộ đều có thể gây ra một lượng vô tận các mối liên tưởng. Tuy nhiên, hầu hết mọi người chỉ thực hiện một vài mối đó. Những người có trí nhớ tốt có những não bộ mà thực hiện liên tục nhiều mối liên tưởng với mọi dữ liệu đầu vào, trong  một  cung cách hầu như là tự động và thuộc về tập quán. Con số đông đảo các mối liên tưởng giúp bảo đảm rằng ngay cả nếu như có một số trong chúng bị quên thì số còn lại vẫn đủ để duy trì trí nhớ. Tuy nhiên, đó vẫn chưa là đủ. Chúng ta thấy rằng để thuộc/nhớ, chúng ta phải hiểu, điều nghĩa là rằng các mối liên tưởng này được kết nối với nhau và sắp đặt theo một cung cách logic nào đó. Sự hiểu thì tương tự việc sắp đặt mọi thứ theo một cách tổ chức tốt vào trong một tủ đựng hồ sơ vậy. Nếu cùng dữ liệu/thông tin đó bị rắc rải hú hoạ khắp trên mặt bàn và trên sàn nhà, bạn sẽ không dễ mà tìm ra dữ liệu/thông tin bạn cần. Những bộ não của những người ghi nhớ tài giỏi  là luôn liên tục không ngừng tìm kiếm những mối liên tưởng "lý thú" hoặc "gây sửng sốt" hoặc "bí ẩn" hoặc "thái quá", vv, (các điểm định vị tủ hồ sơ) mà giúp cho việc nhớ lại dễ dàng hơn. Các mối liên tưởng “có ý nghĩa” và “hiểu” của trí nhớ giúp những người nhớ giỏi thêm thông minh; vì vậy mà trí nhớ tốt có thể nâng cao chỉ số IQ. Điều này tương tự với máy tính: tăng bộ nhớ có thể giúp tăng tốc một máy tính chậm.  


Đặc tính liên tưởng của trí nhớ lý giải vì sao mà trí nhớ bàn phím tác động :  bạn đã liên tưởng bản nhạc với các thao tác cụ thể và các phím mà phải được chơi để tạo thành bản nhạc. Điều này cũng cho ta biết cách để tối ưu hoá trí nhớ bàn phím. Hiển nhiên, sẽ là một sai lầm nếu ta ra sức nhớ từng cú nhấn phím; chúng ta nên suy nghĩ thành những thứ chẳng hạn như  "RH arpeggio khởi từ C, mà được lặp lại ở LH một quãng tám thấp hơn, staccato, với tình cảm vui", vv.,  và liên kết những thao tác này với tổng phổ và cấu trúc của nó; tức là, ghi nhớ các nhóm và các họ các nốt và các ý niệm trừu tượng. Bạn nên thiết lập càng nhiều mối liên tưởng càng tốt: nhạc Bach có thể chứa những đặc điểm nhất định, chẳng hạn những chi tiết hoa mỹ đặc biệt và những chỗ hai bàn tay xung đột và các nhóm parallel set. Cái bạn sẽ làm là thực hiện các hoạt động của việc chơi "có ý nghĩa" theo cái cách mà bản nhạc được phát ra và cách bạn “hiểu” tác phẩm đó. Đây là lý do tại sao việc luyện tập các âm giai và  arpeggio là hết sức quan trọng. Khi bạn va phải một câu chạy gồm 30 nốt, bạn có thể nhớ nó một cách đơn giản như một phân khúc của một âm giai, thay vì 30 nốt riêng biệt để thuộc. Việc học cao độ tuyệt đối hoặc tối thiểu là cao độ tương đối  cũng rất hữu dụng cho trí nhớ bởi vì chúng cung cấp các mối liên tưởng bổ sung bằng các nốt cụ thể. Các mối liên tưởng phổ biến nhất mà các nhạc sĩ thường thiết lập là với các tình cảm được khêu gợi lên bởi bản nhạc. Một số người sử dụng màu sắc hay cảnh vật. Kết luận, "Người nhớ giỏi bẩm sinh" là một cụm từ mà không có một định nghĩa nào, bởi mỗi người nhớ giỏi có một phương thức, và tất cả các phương thức dường như đều tuân theo một số nguyên tắc căn bản rất tương tự nhau mà bất kỳ ai cũng đều học được.  

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Chức năng Ghi nhớ con người; Âm nhạc = Thuật toán Ghi nhớ - Memory Algorithm (P58)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Chức năng Ghi nhớ con người; Âm nhạc = Thuật toán Ghi nhớ - Memory Algorithm (P58)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt