Menu
Menu
Loading...
Loading...

Bàn tay , ngón tay, các cử động cơ thể cho kỹ thuật (P40)

Các động tác của bàn tay (Sấp-Pronation, Ngửa-Supination, Đẩy-Thrust và Kéo-Pull, Vuốt-Claw và Duỗi-Throw, Xoay -Flick, Cổ tay-Wrist) 

Một số động tác nhất định của bàn tay được đòi hỏi để thụ đắc kỹ thuật. Ví dụ đã thảo luận về các nhóm parallel set ở trên, song không chỉ rõ các loại động tác nào của bàn tay là cần thiết khi chơi chúng. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ngay từ đầu là rằng các động tác cần thiết của bàn tay có thể là cực nhỏ, hầu như không thể cảm/nhận thấy. Sau khi bạn đã thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp, bạn có thể phóng đại chúng tới bất cứ mức độ nào bạn muốn. Do vậy mà trong một buổi hòa nhạc của bất kỳ nghệ sĩ lừng danh nào, hầu hết các động tác của bàn tay sẽ không thể thấy rõ (chúng thường xảy ra quá nhanh để thính giả có thể bắt kịp) vì thế mà hầu hết các động tác mà trông thấy rõ chỉ là những sự phóng đại hoặc chẳng ăn nhập gì cả. Theo đó, hai nghệ sĩ trình diễn, một với đôi bàn tay bất động, còn nghệ sĩ kia thì với đôi bàn tay bay lượn tinh nhã, tự tin, trong thực tế có thể cả hai nghệ sĩ đều đang dùng những động tác bàn tay y hệt như nhau như của loại động tác mà chúng ta thảo luận ở đây. Các động tác chủ yếu của bàn tay là sấp và ngửa, Đẩy-thrust (hoặc xô-push) và các động tác Vuốt-Claw, Duỗi-Throw, Xoay vụt -Flick, Cổ tay-Wrist. Chúng thì hầu như luôn luôn được kết hợp vào những động tác phức tạp hơn. Lưu ý rằng chúng luôn xuất hiện thành từng cặp (có một cú vẩy (flick) nhẹ bên phải và bên trái, và một cách tương tự cho các động tác của cổ tay). Chúng cũng là những động tác chính bẩm sinh của bàn tay và ngón tay. 


Tất cả các động tác của ngón tay phải được hỗ trợ bằng các cơ bắp chính của cánh tay, cơ bả vai phần thuộc lưng, và các cơ ngực ở đằng trước ở tâm ngực.Động tác cơ nhẹ nhất của ngón tay, vì thế, liên quan tất các các cơ bắp trên. Tuyệt đối không có cái gì như là sự cử động duy nhất của một ngón tay -- bất kỳ một động tác ngón nào cũng liên quan toàn bộ cơ thể. Sự giảm stress là quan trọng cho sự thư giãn các bắp cơ này hầu cho chúng có thể phản ứng, và hỗ trợ, trong sự vận động của các đầu ngón tay. Các động tác chính của bàn tay được thảo luận chỉ một cách vắn tắt ở đây; để hiểu chi tiết hơn, hãy xem phần tham khảo (Fink or Sandor, and Mark for anatomy). 
Sấp và Ngửa : bàn tay có thể xoay quanh trục của cẳng tay. Sự quay vào trong (ngón cái đi xuống) được gọi là xoay sấp- pronation và sự quay ra ngoài (ngón cái đi lên) được gọi là xoay ngửa- supination. Các động tác này xảy ra, ví dụ, khi bạn đang chơi các tremolo quãng tám. Có hai xương ở cẳng tay bạn, xương phía trong (radius, nối với ngón cái) và xương phía ngoài (ulna, nối với ngón út). Sự xoay bàn tay xảy ra bằng sự xoay của xương mé trong ngược chiều với xương mé ngoài (vị trí bàn tay tương ứng với tư thế bàn tay của người chơi piano với lòng bàn tay úp xuống). Xương mé ngoài được giữ yên vị bằng cánh tay trên. Do vậy, khi bàn tay được xoay, ngón cái chuyển động nhiều hơn ngón út. Một động tác xoay sấp nhanh là một cách tốt để chơi ngón cái. Khi chơi tremolo quãng tám, sự chuyển động ngón cái là dễ dàng, nhưng ngón út chỉ có thể chuyển động nhanh khi ta sử dụng một sự kết hợp các động tác. Như vậy trở ngại của sự chơi tremolo quãng tám nhanh tựu trung ở việc tìm giải pháp cho sự vận động nhanh của ngón út. Tremolo quãng tám nên được chơi bằng sự chuyển động của ngón út với cánh tay trên và của ngón cái với cẳng tay (kết hợp với các cử động của các ngón tay). 


Đẩy và Kéo: Đẩy là một động tác đẩy ngón tay hướng tới nắp phím [fallboard], thường được đi cùng bằng một động tác nâng nhẹ cổ tay. Với các ngón tay khum, động tác đẩy khiến lực véc tơ của bàn tay đang chuyển động hướng tới được hướng dọc theo các xương của các ngón tay. Điều này tạo thêm sự kiểm soát và sức mạnh. Vậy nên nó là hữu dụng khi chơi các hợp âm. Kéo là một động tác tương tự với các ngón tay hướng ra xa khỏi nắp phím. Trong các động tác này, tổng động tác có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn thành phần véc tơ hướng xuống (nhấn phím), cho phép sự kiểm soát lớn hơn. Đẩy là một trong các lý do chính tại sao tư thế chuẩn của ngón tay là khum vào. Hãy thử chơi một hợp âm bất kỳ chứa nhiều nốt, trước nhất hãy buông bàn tay rơi thẳng xuống như trong một cú rơi trọng lực, kế đó sử dụng động tác đẩy. Hãy chú ý những kết quả ưu việt hơn với động tác đẩy này. Động tác kéo hữu dụng cho một số các đoạn luyến tiếng-legato và khẽ dịu. Vậy nên, khi luyện tập các hợp âm, hãy luôn thử nghiệm bằng việc bổ sung vào một động tác đẩy hay là kéo nào đó. 

Vuốt và Duỗi : Vuốt là chuyển động các đầu ngón tay hướng vào trong lòng bàn tay còn Duỗi là mở các ngón tay ra theo tư thế thẳng tự nhiên của chúng. Nhiều nhạc sinh không nhận thức điều đó, bên cạnh sự chuyển động lên và xuống của các ngón tay, chúng còn có thể được chuyển động hướng vào trong và hướng ra ngoài khi chơi. Đây là những động tác bổ sung hữu dụng. Chúng giúp gia tăng đáng kể sự chủ động kiểm soát, đặc biệt là cho các đoạn luyến tiếng (legato) và khẽ, cũng như khi chơi staccato. Tương tự như Đẩy và Kéo, các động tác này cho phép một động tác lớn hơn với một cú nhấn phím nhỏ hơn. Như vậy, thay vì buông các ngón tay thẳng xuống cho cú nhấn phím, hãy thử nghiệm với một động tác vuốt hay duỗi ngón nào đó để xem liệu nó có hữu ích hơn không. Chú ý rằng động tác vuốt thì tự nhiên và dễ dàng hơn nhiều để điều khiển so với một động tác nhấn thẳng. Động tác nhấn thẳng của đầu ngón tay trong thực tế là một sự kết hợp phức tạp của một động tác vuốt và một động tác duỗi. Động tác nhấn phím đôi khi có thể được giản lược bằng cách duỗi dẹt các ngón tay và chơi chỉ bằng một chuyển động vuốt nhẹ. Đây là lý do tại sao bạn đôi khi có thể chơi tốt hơn bằng các ngón tay dẹt hơn là với các ngón tay khum 

Xoay: Xoay là một trong các động tác quan trọng nhất. Nó là một sự xoay thuận và xoay ngược lại rất nhanh của bàn tay; một kỹ thuật sấp-ngửa nhanh, hoặc là quy trình ngược lại. Chúng ta đã thấy rằng các nhóm parallel set có thể được chơi ở hầu như bất kỳ tốc độ nào. Khi chơi các đoạn nhanh, trở ngại về tốc độ nảy sinh khi ta cần nối kết các parallel set. Không có một giải pháp duy nhất nào cho vấn đề kết nối này. Động tác mà xuất hiện gần nhất với một giải pháp phổ biến là Xoay, đặc biệt là khi ngón cái có liên quan, như trong các âm giai và các arpeggio. Các động tác xoay riêng lẻ có thể được thực hiện cực nhanh với stress hầu như bằng không, nhờ đó giúp tăng tốc độ chơi; tuy nhiên, các động tác xoay nhanh cần được "nạp lại"; tức là, các động tác xoay nhanh liên tục thì khó. Những điều này lại hoàn toàn phù hợp cho việc kết nối các nhóm parallel set bởi động tác xoay có thể được sử dụng để chơi [nốt] móc liên kết rồi kế đó được nạp lại trong quá trình chơi nhóm parallel set. Để nhấn mạnh lần nữa điều đã được chỉ ra ở đầu phần này, thì các động tác xoay này và các động tác khác không cần phải lớn và thường khi là nhỏ tới mức không thể nhận thấy; do vậy động tác xoay có thể được xem như một động tác xoay động lượng hơn là một động tác thực. 

Động tác cổ tay: Chúng ta đã thấy rằng động tác cổ tay là hữu dụng bất cứ khi nào ngón cái hoặc ngón út được chơi; nguyên tắc tổng quát là nhấc cổ tay lên cho ngón út và hạ nó xuống cho ngón cái. Dĩ nhiên, đây là một nguyên tắc cứng; có vô số ngoại lệ. Động tác cổ tay cũng hữu dụng trong sự kết hợp với các động tác khác. Bằng sự kết hợp động tác cổ tay với động tác sấp-ngửa, bạn có thể tạo nên các động tác quay cho sự chơi các đoạn lặp lại chẳng hạn các bè đệm LH, hoặc chương thứ nhất Sonata Moonlight của Beethoven. Cổ tay có thể được chuyển động cả lên và xuống, và sang hai bên. Mọi nỗ lực nên được thực hiện sao cho cái ngón tay mà đang chơi thì song song với cẳng tay; điều này đạt được với động tác sang bên của cổ tay. Cấu hình này đặt lượng tối thiểu sự căng cơ một bên lên các dây chằng đang giúp chuyển động các ngón và làm giảm các rủi ro chấn thương chẳng hạn hội chứng đau ống xương cổ tay. Nếu bạn phát hiện rằng bạn mắc tật chơi piano (hoặc đánh máy) với cổ tay vênh theo một góc lệch sang bên, sự này có thể là một dấu hiệu cảnh báo xấu. Cổ tay thả lỏng cũng là một điều kiện tiên quyết cho sự thư giãn trọn vẹn. 
Tóm lại, trên đây là nhận xét vắn tắt về các động tác bàn tay. Cần trọn cả một cuốn sách để viết về chủ đề này. Ấy là chúng ta còn thậm chí chưa hề đả động tới các đề tài về việc bổ sung các động tác khác như cánh tay trên, khuỷu tay, vai, thân, bàn chân,vv. Nhạc sinh được khuyến khích nghiên cứu đề tài này càng nhiều càng tốt bởi nó chỉ có thể hữu ích mà thôi. Các động tác được thảo luận trên thì hiếm khi được sử dụng đơn độc. Các nhóm parallel set có thể được chơi với bất kỳ sự kết hợp nào của hầu hết các động tác trên mà thậm chí không cử động một ngón tay (là so tương đối với bàn tay). Đây chính là điều được ngụ ý, trong phần luyện tập HS, với lời khuyên hãy thử nghiệm nó và hãy tiết kiệm các động tác bàn tay. Sự hiểu biết từng loại động tác sẽ cho phép nhạc sinh thử từng loại riêng rẻ và xem loại nào là cần thiết. Nó trong thực tế là then chốt của nền tảng tối thượng trong kỹ thuật.  

Soạn giả: Chuan C. Chang (nhà khoa học)

Biên tập:  Lê Minh Hiền (nhạc sĩ)

Dịch giả: Nhật Nguyệt (thi sĩ), Đại Nhật

*** Chia sẻ, sao chép vui lòng ghi rõ nguồn bài viết thuộc bản quyền Harmony Co.,Ltd

  • Chia sẻ qua viber bài: Bàn tay , ngón tay, các cử động cơ thể cho kỹ thuật (P40)
  • Chia sẻ qua reddit bài:Bàn tay , ngón tay, các cử động cơ thể cho kỹ thuật (P40)

Bài viết liên quan

Thói quen tập luyện đàn piano theo tính bản năng (P1)

PHẦN 1: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Độ cao của ghế và khoảng cách giữa người đàn với bàn phím (P2)

PHẦN 2: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Tư thế ngón tay cong vòm, phẳng đầu ngón và chứng tê liệt cong (P3)

PHẦN 3: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng

Quy trình tập một tác phẩm mới: nghe, phân tích và cách tập luyện (P4)

PHẦN 4: Phương pháp luyện tập đàn piano - nguyên lý và nguyên tắc nền tảng 

TÌM KIẾM

Danh mục

Loading...

ưu đãi đặc biệt